ĐẶT VẤN ĐỀ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người [7], [9]. Thông qua ngôn ngữ, con người có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được những suy nghĩ, tình cảm và nguyện vọng của mình, từ đó có thể chung sống, cùng làm việc và phát triển xã hội. Bên cạnh ngôn ngữ dùng lời nói và chữ viết, con người còn sử dụng các hình thức khác để giao tiếp như cử chỉ, dấu hiệu, ký hiệu, v. Tuy nhiên, những hình thức này được cho là không linh hoạt bằng với những hạn chế về tính dễ hiểu và toàn diện so với ngôn ngữ bằng lời [7], [9].
Do vậy, mất ngôn ngữ là khiếm khuyết về ngôn ngữ “làm ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp và xã hội, chất lượng cuộc sống của một cá nhân, và chất lượng cuộc sống của những người thân và những người chăm sóc người đó” (Papathanasiou và cộng sự, 2017, trang 4) [37]. Theo các nghiên cứu trên thế giới, khoảng 30 – 35% người bị đột quỵ có chứng mất ngôn ngữ khi xuất viện và 2/3 trong số họ vẫn còn bị mất ngôn ngữ kéo dài đến 12 tháng sau [31], [37], [39]. So với người bị đột quỵ không có mất ngôn ngữ, người bị đột quỵ có mất ngôn ngữ tốn nhiều chi phí chăm sóc sức khỏe hơn (8,5%) và có thời gian nằm viện lâu hơn (6,5%) [21], [37]. Ngoài ra, người mất ngôn ngữ cũng có kết cục dài hạn sau đột quỵ kém với những hậu quả như trầm cảm, tách biệt xã hội và chất lượng cuộc sống kém đối với chính bản thân bệnh nhân và gia đình họ [37].
Ở Việt Nam, mất ngôn ngữ trong lượng giá ban đầu các trường hợp đột quỵ chiếm tỉ lệ từ 20 – 38% [2], [8]. Chỉ tính riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, đột quỵ là một trong mười bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi, và mất ngôn ngữ chiếm tỉ lệ khoảng 36,7% ở các bệnh nhân nhồi máu não trên lều [6], [8]. Những điều này cho thấy việc kiểm soát chứng mất ngôn ngữ sau đột quỵ tại Việt Nam là cần thiết vì tình trạng này chiếm tỉ lệ không nhỏ và có nhiều tác động không tốt đến đời sống bệnh nhân, gia đình và xã hội. Dù gặp khó khăn về giao tiếp, những người mất ngôn ngữ vẫn có khả năng đưa ra quyết định và tham gia vào các hoạt động xã hội nếu họ được tạo thuận lợi trong việc hiểu và trao đổi thông tin [2], [11].
Tổ Chức Liên Kết Cộng Đồng Mất Ngôn Ngữ Toàn Cầu (Aphasia United) là một tổ chức bảo trợ quốc tế thành lập năm. 2 2011, tập hợp các bên liên quan (bao gồm các nhà nghiên cứu, những chuyên gia lâm sàng, người bị mất ngôn ngữ và gia đình họ) để giải quyết nhu cầu toàn cầu về phục hồi chức năng chứng mất ngôn ngữ [11], [37], [42]. Nhằm nâng cao khoa học và các dịch vụ về chứng mất ngôn ngữ trên toàn thế giới, tổ chức này gần đây phát triển các khuyến nghị thực hành cho chứng mất ngôn ngữ làm cơ sở của thực hành dựa vào bằng chứng nhằm cải thiện việc tầm soát, lượng giá, điều trị và các dịch vụ cho chứng mất ngôn ngữ, được xây dựng thông qua phương pháp tiếp cận ba giai đoạn [42]. Qua hai giai đoạn đầu, một quy trình đồng thuận đa quốc gia đã đưa ra 10 khuyến nghị thực hành tốt nhất cho chứng mất ngôn ngữ từ bằng chứng nghiên cứu và ý kiến chuyên gia.
Hiện tại, nghiên cứu đang đi vào giai đoạn thứ ba nhằm xác nhận và tìm hiểu sự liên quan của các khuyến nghị thực hành tốt nhất với những người bị mất ngôn ngữ và gia đình của họ trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu dịch thuật và xác nhận tính giá trị của các khuyến nghị hiện có này sẽ là chứng cứ thuyết phục chính sách xã hội và chuyển đổi từ ngôn ngữ hàn lâm chuyên ngành sang ngôn ngữ phù hợp với các nhà hoạch định chính sách và người thụ hưởng. Hiện tại Việt Nam chưa có văn bản hướng dẫn thực hành riêng dành cho chứng mất ngôn ngữ. Tháng 6 năm 2020, Bộ Y tế Việt Nam có ban hành hướng dẫn về Ngôn ngữ trị liệu cho người bệnh đột quỵ, trong đó có đề cập một phần đến chứng mất ngôn ngữ sau đột quỵ [4].
Tuy nhiên, những hướng dẫn này được dựa trên các hướng dẫn thực hành của tổ chức đột quỵ (Stroke Foundation), hướng đến chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân đột quỵ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi chức năng đột quỵ (trong đó có chứng mất ngôn ngữ sau đột quỵ) đạt được kết quả tốt [4], [44], [45]. Trong khi đó, Tổ Chức Liên Kết Cộng Đồng Mất Ngôn Ngữ Toàn Cầu hướng vào các đối tượng là người mất ngôn ngữ (trong đó có nguyên nhân mất ngôn ngữ do đột quỵ) và những người liên quan để đưa ra các khuyến nghị được tổng hợp từ khắp nơi trên thế giới cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và cộng đồng liên quan đến những người mắc chứng mất ngôn ngữ [11], [42]. Hơn nữa, chưa có nghiên cứu nào đã công bố cho đến nay liên quan đến việc xác nhận khả năng áp dụng thực tế của phục hồi chức năng mất ngôn ngữ sau đột quỵ được báo cáo dù đã có hướng dẫn của Bộ Y tế. 3 Với tầm ảnh hưởng của chứng mất ngôn ngữ và tỉ lệ không nhỏ của chứng mất ngôn ngữ gặp ở bệnh nhân đột quỵ tại Việt Nam, cùng với sự khác biệt về văn hóa và kinh tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định những khuyến nghị hiện có của Tổ Chức Liên Kết Cộng Đồng Mất Ngôn Ngữ Toàn Cầu có thật sự thích hợp và hữu ích đối với bản thân người mất ngôn ngữ và những người liên quan ở bối cảnh của Việt Nam hay không.
Tại Việt Nam, việc chăm sóc người đột quỵ chủ yếu do người thân và gia đình, họ là người thường xuyên giao tiếp với người mất ngôn ngữ do đột quỵ nên họ trải nghiệm nhiều hơn về chứng mất ngôn ngữ cũng như tác động của chứng này đối với người mất ngôn ngữ và đối với cả bản thân họ [13], [22], [32]. Ý kiến của những người chăm sóc giúp cung cấp thông tin góp phần cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người mất ngôn ngữ sau đột quỵ nói riêng và cho chứng mất ngôn ngữ nói chung sát hợp thực tế. Ngoài ra, chúng tôi muốn xác định còn những khuyến nghị nào khác về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan, phù hợp với nhu cầu thực tế ở Việt Nam nên được bổ sung nhằm giúp những người mất ngôn ngữ tăng cường khả năng giao tiếp và tham gia theo cách mà họ lựa chọn. Để trả lời cho những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát ý kiến của những người chăm sóc cho những người mất ngôn ngữ về giá trị các khuyến nghị thực hành tốt nhất của Tổ Chức Liên Kết Cộng Đồng Mất Ngôn Ngữ Toàn Cầu tại Việt Nam.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định sự phù hợp về nội dung và từ ngữ của các khuyến nghị thực hành tốt nhất hiện có của Tổ Chức Liên Kết Cộng Đồng Mất Ngôn Ngữ Toàn Cầu từ quan điểm của người chăm sóc tại Việt Nam. Xác định các khuyến nghị cần bổ sung theo quan điểm người chăm sóc giúp cải thiện các hướng dẫn thực hành trong tương lai cho chứng mất ngôn ngữ phù hợp với Việt Nam. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu về mất ngôn ngữ 1. Tổng quát về mất ngôn ngữ Nhiều định nghĩa mất ngôn ngữ đã được đề xuất từ quan điểm về thần kinh, ngôn ngữ liên quan thần kinh, nhận thức và chức năng [37]. Bất kể là theo quan điểm nào, có sự đồng ý rằng mất ngôn ngữ là một rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc tiếp nhận (hiểu, đọc) và diễn đạt (nói, viết), về bản chất là đa phương thức và do rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương gây ra [9], [37]. và các cộng sự (2017) định nghĩa mất ngôn ngữ là “khiếm khuyết có chọn lọc mắc phải của các phương thức và chức năng ngôn ngữ do tổn thương não khu trú ở bán cầu ưu thế ngôn ngữ, khiếm khuyết đó ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp và xã hội, chất lượng cuộc sống của một cá nhân, và chất lượng cuộc sống của những người thân và những người chăm sóc người đó” (Papathanasiou và cộng sự, 2017, trang 4) [37].
Định nghĩa này tập trung cả về khiếm khuyết lẫn hậu quả do mất ngôn ngữ gây ra, bao gồm mọi thành phần theo mô hình Phân loại quốc tế về Hoạt động chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [2], [37], [49]. ICF cung cấp “một ngôn ngữ và khuôn khổ thống nhất và tiêu chuẩn để mô tả sức khỏe và các tình trạng liên quan đến sức khỏe” (WHO and The World Bank, 2011, trang 306) [49]. Bất kỳ nguyên nhân nào gây tổn thương vùng não liên quan đến ngôn ngữ cũng có thể gây ra mất ngôn ngữ, ví dụ như: bệnh lý mạch máu của não (như đột quỵ), u não, chấn thương não, các bệnh nhiễm trùng (như viêm màng não, viêm não do vi rút), các bệnh lý thoái hóa (như bệnh Parkinson, bệnh đa xơ cứng, sa sút trí tuệ) [40]. Trong các nguyên nhân này, đột quỵ là thường gặp nhất [9], [11].
Tần suất mất ngôn ngữ sau đột quỵ cũng tùy theo loại đột quỵ. Khi đến bệnh viện ≤ 3 giờ kể từ khi khởi phát đột quỵ, tần suất mất ngôn ngữ thấp nhất đối với xuất huyết khoang dưới nhện cấp tính (9%) và cao nhất đối với đột quỵ cấp do thiếu máu cục bộ (62%) [21]. 5 Các hội chứng mất ngôn ngữ thường được xác định trên lâm sàng thông qua việc lượng giá các khiếm khuyết ngôn ngữ và được phân loại dựa trên các đặc điểm thường gặp như: tính lưu loát, khả năng hiểu, khả năng lặp lại và khả năng gọi tên [9], [40]. Các loại mất ngôn ngữ có sự phân bố khá khác nhau trong mất ngôn ngữ cấp và mạn nhưng không liên quan đến tiên lượng về chức năng ngôn ngữ [39].
Việc xác định độ nặng ban đầu của chứng mất ngôn ngữ có thể giúp tiên lượng kết quả cho chức năng ngôn ngữ [38], [39]. 95% trường hợp đạt được chức năng ngôn ngữ cố định trong vòng 2 tuần ở những người mất ngôn ngữ nhẹ ban đầu, trong vòng 6 tuần ở những người bị mất ngôn ngữ mức độ trung bình và trong vòng 10 tuần ở những người bị mất ngôn ngữ nặng [38].