MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nƣớc đang trên đà đổi mới và phát triển, đời sống xã hội ngày một nâng cao. Chính vì vậy mà nhu cầu thực phẩm tăng mạnh cả về số lƣợng và chất lƣợng, trong đó phải kể đến nhu cầu về sữa - thịt. Thực tế đó đang đặt ra một nhiệm vụ trƣớc mắt cho ngành chăn nuôi cả nƣớc phải đẩy mạnh cả về số lƣợng và chất lƣợng đàn gia súc nói chung và đàn bò sữa nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu nói trên của xã hội.
Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có lịch sử phát triển trên 50 năm, nhƣng phát triển nhanh từ năm 2001, khi có quyết định số 176 /2001/QĐ -TTg, ngày 26/10/2001 của Thủ tƣớng Chính Phủ về một số biện pháp và chính sách phát triển bò sữa của nƣớc ta, năm 2001 từ 41 ngàn con đến năm 2009 đã đạt trên 115 ngàn con, từ đó tổng sản lƣợng sữa tƣơi đã tăng tƣơng ứng là từ 64 ngàn tấn (năm 2001) lên trên 278 ngàn tấn (năm 2009) (theo Tổng cục thống kê 1/10/2010) và hiện tại Nhà nƣớc đang khuyến khích phát triển và có nhiều chƣơng trình đầu tƣ cho lĩnh vực phát triển đàn bò sữa ở nƣớc ta. Tính đến tháng 6 năm 2018 tổng đàn bò sữa nƣớc ta ƣớc khoảng 310 nghìn con tăng 5,6% so với năm 2017 (Tổng cục Thống kê Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn). Tuy nhiên, bò sữa là bò nhập nội nên khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu cũng nhƣ nuôi dƣỡng, chăm sóc ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, dẫn đến các chỉ tiêu về sinh sản thƣờng không ổn định. Trong đó phải nói đến các bệnh ở cơ quan sinh dục, nhất là bệnh viêm tử cung xảy ra với tỷ lệ cao.
Viêm tử cung là bệnh thƣờng xuyên xảy ra ở đàn bò sữa và hậu quả của nó thƣờng dẫn đến hiện tƣợng rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm vú, mất sữa… làm tổn thất lớn đến hiệu quả chăn nuôi bò sữa. Đàn bò sữa tại công ty TNHH bò sữa Thống Nhất - Thanh Hóa 100% là bò nhập nội, bởi vậy tính thích nghi với điều kiện khí hậu ở Việt Nam tƣơng đối kém. Hiện tƣợng bò bị viêm tử cung xảy ra quanh năm với tỷ lệ lớn và là bệnh phổ biến nhất, gây thiệt hại lớn trên đàn bò sữa của trang trại. Xuất phát từ thực 8 tế đó, để đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại cơ sở sản xuất cũng nhƣ xác định phác đồ điều trị thích hợp đối với bệnh này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình viêm tử cung trên đàn bò sữa và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại Công ty TNHH bò sữa Thống Nhất - Thanh Hóa”.
Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Đánh giá tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại Công ty TNHH bò sữa Thống Nhất - Thanh Hóa. - Lựa chọn phác đồ điều trị hiệu quả cho bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại Công ty TNHH bò sữa Thống Nhất - Thanh Hóa. Yêu cầu cần đạt - Xác định đƣợc tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại Công ty TNHH bò sữa Thống Nhất - Thanh Hóa.
- Xác định đƣợc hiệu quả điều trị của 2 phác đồ và rút ra phác đồ điều trị đạt hiệu quả cao. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên chuyên ngành chăn nuôi thú y. Ý nghĩa thực tiễn Từ kết quả nghiên cứu về tình hình bệnh viêm tử cung và xác định phác đồ điều trị hiệu quả làm cơ sở cho trang trại có biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung cho đàn bò sữa, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Công ty TNHH bò sữa Thống Nhất - Thanh Hóa.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái Sinh sản là chức năng vô cùng quan trọng của gia súc cái và cũng là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể. Các nhà chăn nuôi từ lâu đã quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về cấu tạo và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan sinh dục của gia súc cái. Cơ quan sinh dục bò cái mang đặc tính chung của loài và chia làm 2 bộ phận: Bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình), bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng).
Theo Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dƣơng (1997) [5] thì đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục bò cụ thể nhƣ sau: 2. Các bộ phận sinh dục bên ngoài 2. Âm môn hay âm hộ (Vulva) Dƣới hậu môn là âm môn, phía ngoài âm môn có 2 môi (Labia vulva), nối liền 2 môi bằng 2 mép (Bima vulvae). Trên hai môi của âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết, tiết chất nhờn trắng và tiết mồ hôi.
Âm vật (Clitoris) Âm vật giống nhƣ dƣơng vật thu nhỏ, trong cấu tạo âm vật cũng có các thể hổng nhƣ con đực. Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (praepatium clitoridis), giữa âm vật bẻ gập xuống dƣới. Tiền đình Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo.Trong tiền đình có màng trinh, phía trƣớc màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo, màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp. Sau màng trinh có lỗ niệu đạo.
Tiền đình có một số tuyến, tuyến này xếp theo hàng chéo, hƣớng quay về âm vật. Các bộ phận sinh dục bên trong 2. Cấu tạo của âm đạo chia thành 3 lớp: 10 - Lớp liên kết ở ngoài gồm cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. - Các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung.
- Lớp niêm mạc âm đạo có nhiều tế bào thƣợng bì và tạo thành những nếp dọc, nếp dọc hai bên nhiều hơn ở chính giữa. Âm đạo là một cái ống tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra trong quá trình đẻ. Kích thƣớc âm đạo của bò là từ 22 - 25 cm. Tử cung (Uterus) Tử cung trâu bò hình sừng cừu, thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài, lớp niêm mạc trong tử cung và trên hai sừng tử cung có gấp nếp nhiều lần tập trung lại với số lƣợng từ 80/120 (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [3], đây là tiền thân của núm nhau mẹ.
- Cổ tử cung (Cervix): Có dạng hình tròn, luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào có hƣng phấn cao độ, hoặc lúc sinh đẻ hay khi bệnh lý. Niêm mạc cổ tử cung trâu bò gấp nếp nhiều lần, từ 3 - 5 lần gọi là nhiều lần hoa nở. Có sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trƣởng thành, giữa bò đẻ ít và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thƣờng và bò đẻ không bình thƣờng. Cổ tử cung dài khoảng 5 - 10 cm, đƣờng kính từ 2 - 5 cm.
- Thân tử cung (Body uterus): Thân tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung, có kích thƣớc rất ngắn, chỉ khoảng 2 - 4 cm. Thân tử cung đƣợc cấu tạo bởi lớp cơ trơn dày, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, trong cùng là các tuyến sinh dục có khả năng tiết ra những chất giúp cho sự vận động của tinh trùng cũng nhƣ sự phát triển của thai. - Sừng tử cung (Horn uterus): Bò cái có hai sừng tử cung trái và phải, độ dài của sừng tử cung khoảng 15 - 20 cm. Hai sừng tử cung của bò cái gắn với thân tử cung gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3 - 5 cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai hay bệnh lý ở tử cung.
Buồng trứng (Ovarium) Buồng trứng có hình bầu dục, thƣờng là màu trắng không có lõm rụng trứng. Vị trí buồng trứng bò thƣờng nằm ở hai mút sừng tử cung, gần cạnh trƣớc 11 xƣơng ngồi, hay ở phía dƣới sừng tử cung. Kích thƣớc của buồng trứng khoảng (1 - 2) × (1 - 1,5) × 1,5 cm. Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng vè tiết dịch nội tiết.
Bên dƣới là lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng non (Folliculin ovocyt primario). Khi noãn bao chín thì các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum granulosum). Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái xoang có chứa dịch (Liquar folliculin). Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo ra một lớp nang bao bọc ở ngoài, có chỗ lồi lên để chứa tế bào trứng (Ovum).
Noãn bao nguyên thủy khi trở thành noãn bao chín (Folliculin ovaricus vesiculosus) đƣợc bao bọc bởi một lớp màng mỏng. Tổ chức màng liên kết buồng trứng lúc này dày lên để bảo vệ noãn bao chín, giữa màng bảo vệ liên kết và màng mỏng của noãn bao là tổ chức mạch quản dày đặc. Noãn bao chín có kích thƣớc 1cm. Tế bào trứng trong noãn bao là tế bào lớn nhất trong cơ thể, có thể trông thấy đƣợc bằng mắt thƣờng, kích thƣớc 0,15 - 0,25 mm.
Lúc noãn bao đã thành thục thì màng bọc nang, màng bao liên kết buồng trứng rách ra, tế bào trứng đƣợc rời khỏi buồng trứng, cùng với dịch nang, tế bào hạt đi vào loa kèn. Màng noãn bao rách xong liền lại ngay, các tế bào hạt trong xoang phân chia thành một khối tế bào lớn lấp kín xoang noãn bao và trở thành thể vàng (Corpus luteum). Thể vàng là thể rắn màu vàng, các tế bào thể vàng tiết ra progesterone và các progestin khác. Thể vàng có thể đạt đến kích thƣớc tối đa là 20,5 mm vào ngày 15 - 16 của chu kỳ, sau đó thoái hóa và có đƣờng kính trung bình 12,5 mm vào ngày 18 - 21 của chu kỳ động dục.
Nếu bò thụ thai thể vàng sẽ không thoái hóa cho đến cuối kỳ mang thai. Khối lƣợng thể vàng và hàm lƣợng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 cho đến ngày thứ 8 và giữ tƣơng đối ổn định cho tới ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày 17 - 18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không đƣợc thụ tinh.