Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan Chương 2: Khảo sát, phân loại từ ngữ Hán Việt trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Chương 3: Giá trị biểu đạt của từ ngữ Hán Việt trong tiểu thuyết Mẫu thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1. Lí thuyết về từ Hán Việt 1. Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt Trong quá trình hoạt động và phát triển của mỗi ngôn ngữ, sự tiếp xúc và vay mượn từ vựng của nó đối với ngôn ngữ khác để làm giàu thêm cho mình là quy luật tất yếu. Trong lịch sử phát triển của tiếng Việt, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đã phát hiện có nhiều ngôn ngữ ngoại lai trong tiếng Việt như: Hán, Anh, Pháp, Nga.
Nước ta đã trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, hơn 100 năm bị đế quốc thực dân xâm lược nên ít nhiều bị ảnh hưởng bởi văn hóa du nhập trong đó có chữ viết. Trong đó tiếng Việt và tiếng Hán cũng không nằm ngoài quy luật. Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu dài. Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu khi phong kiến nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước ta, biến nước ta trở thành những quận, huyện của chúng.
Quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán đã để lại trong tiếng Việt một tỉ lệ lớn các từ vay mượn của tiếng Hán, gọi là từ gốc Hán hay từ Hán Việt. Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã hình thành nên cách đọc Hán – Việt. Theo tài liệu lịch sử, khảo cổ,.ta thấy có ba nhân tố đã đưa đến sự tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng này: Thứ nhất – nhân tố chính trị: Từ khi Triệu Đà xâm lược (179 tr.CN) đến khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán giành độc lập cho nước nhà (939), nước ta bị phong kiến Trung Quốc đô hộ hơn 1000 năm. Trong suốt thời gian đó, nhiều cuộc khởi nghĩa của dân ta nổi lên một thời gian rồi lại bị dập tắt và nước ta vẫn nằm trong vòng cương tỏa của phong kiến Trung Hoa.
Nhìn chung, bộ máy chính quyền của người Hán nhìn trên những nét lớn - vẫn luôn luôn đi theo một hướng duy nhất đó là một bộ máy thống trị ngoại bang. Dưới sự cai trị của nhà Hán, lúc đầu, chính quyền đô hộ phương Bắc mới tập trung quyền lực ở cấp trung ương, nhưng càng ngày càng cố đi sâu xuống tận cơ sở, với chính sách “ Hán hóa” để bóp nghẹt tinh thần quật khởi của người Việt. Đặc biệt từ khi Mã Viện dập tắt được cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì bộ máy cai trị ngoại bang đã siết chặt hoàn toàn xuống tận quận huyện. Đến thời nhà Đường, bộ máy đô hộ đã xuống tận làng xã.
6 Thứ hai - nhân tố xã hội: Với sự hỗ trợ của bộ máy chính quyền ngày càng thắt chặt như trên, trong gần một nghìn năm Bắc thuộc, các bộ phận, các lực lượng xã hội khác cũng từng đợt, từng đợt một, kéo vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau. Người Hán đã dần thâm nhập vào các mặt hoạt động quan trọng của xã hội, văn học, sống trà trộn với người Việt Nam và chi phối đến nhiều họat động quan trọng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là những Kiều nhân sang sinh sống ở Việt Nam với nhiều tầng lớp xã hội, mục đích và lí do khác nhau. Vì thế chính sách “Hán hóa” dân tộc Việt ngày càng có tác động sâu sắc đến xã hội nước ta.
Đó còn là sự tác động mang tính chất qua lại hai chiều khi các binh lính là cư dân người Việt bị bắt phải đi lính cho chính quyền nhà Hán. Đây là nhân tố thứ hai làm cho đợt tiếp xúc này thêm ảnh hưởng sâu đậm, nhất là ở những nơi lỵ sở, cư dân tập trung đông đúc. Thứ ba - quan trọng là sự truyền bá nền văn hóa Hán trong toàn vùng và sự ra đời của một tầng lớp quyền quý người Việt tham gia góp phần tuyên truyền cho ngôn ngữ, văn tự Hán. Lúc Triệu Đà kéo quân sang xâm lược thì Âu Lạc đang ở vào giai đoạn có sự phân hóa xã hội và có sự hình thành của một cơ cấu nhà nước đầu tiên trên cơ sở của những điều kiện nội tại của nó, với việc bị thu hút và phạm vi ảnh hưởng cả Trung Quốc, có thể nói rằng giai đoạn lịch sử này là giai đoạn xã hội Âu Lạc chuyển biến dần, đi và một quá trình phong kiến lâu dài.
Chính cơ sở kinh tế xã hội này đã tạo điều kiện cho việc dễ dàng tiếp thu nền văn học Hán, làm cho ảnh hưởng của nền văn học này ngày càng thấm sâu vào xã hội Việt Nam, thúc đẩy xã hội Việt Nam ngày càng đi nhanh hơn vào con đường phong kiến hóa. Lực lượng góp phần đắc lực nhất cho quá trình Hán hóa này trước hết phải kể đến bộ máy thống trị do quan lại Trung Quốc nắm và tầng đông đảo các kiều nhân người Hán (trong đó có một bộ phận rất uy thế). Nhưng càng về sau vai trò của tầng lớp phong kiến, tầng lớp quyền quý Việt Nam dần dần trở thành một vai trò không thể không kể đến. Đến thời kỳ này, nền văn học Hán nói chung và nền ngôn ngữ văn tự Hán nói riêng đã có một ảnh hưởng quyết định trên địa bàn Việt Nam nhất là ở những nơi trung tâm của chính quyền đô hộ.
Và thời kỳ này trong giai cấp phong kiến Việt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Đây chính là một lực lượng sau khi dành được độc lập đã ra sức bảo vệ, duy trì những gì tiếp thu được trước đó về mặt văn học; nhất là về mặt ngôn ngữ, văn tự và đã góp phần đắc lực trong việc củng cố tuyên truyền cho vai trò của văn ngôn và chữ Hán. 7 Do những ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa, ngôn ngữ của nước ta trong thời kì bị phong kiến Trung Hoa đô hộ nên tiếng Hán giữ vị trí là phương tiện giao tiếp chính thống trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống Việt. Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt đã làm cho vốn từ tiếng Việt phong phú hơn rất nhiều do có sự bổ sung một số lượng rất lớn các lớp từ gốc Hán.
Quá trình hình thành cách đọc Hán Việt Cách đọc Hán – Việt là kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề quá trình hình thành cách đọc Hán Việt này. Tác giả Đặng Đức Siêu trong cuốn Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông quan niệm như sau: Sự gần kề về địa lí, sự tương đồng về phương thức hoạt động sản xuất và tổ chức đời sống xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các mối quan hệ giao hảo giữa người Việt cổ và tổ tiên Hán tộc. Chính vì vậy, quá trình du nhập, định hình và hoạt động của lớp từ ngữ gốc Hán gắn bó với các hoàn cảnh lịch sử thuộc các giai đoạn khác nhau của lịch trình tiếp xúc giao lưu ngôn ngữ, văn hóa Hán Việt.
Sự du nhập và phổ biến ngôn ngữ văn tự Hán ở nước ta diễn ra trong một hoàn cảnh đặc biệt, bằng những phương thức khác biệt và diễn tiến theo những phương hướng riêng qua từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử khác nhau. Quá trình này diễn ra theo hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Bắt đầu vào khoảng thế kỉ I, II sau Công nguyên và kết thúc vào khoảng thế kỉ X. Ban đầu việc du nhập và phổ biến ngôn ngữ - văn hóa Hán là một chủ trương quan trọng trong chính sách đồng hóa người bản địa của đế chế phương Bắc. Nó được chính quyền đô hộ thực thi ráo riết với nhiều âm mưu, thủ đoạn, cách thức khác nhau, nhưng kết quả đạt được rất ít.
Tuy nhiên giai đoạn này, do cuộc sống cộng cư, sự tiếp xúc giao lưu văn hóa - ngôn ngữ giữa hai bên Việt - Hán vẫn diễn ra theo phương hướng chủ đạo là Việt hóa, nên một số lượng lớn từ ngữ Hán đã thâm nhập và xuất hiện trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt cổ sau khi đã bị Việt hóa trên nhiều khía cạnh khác nhau. Như vậy giai đoạn này việc tiếp thu và Việt hóa từ ngữ Hán nhằm làm giàu cho tiếng Việt đã được triển khai rộng rãi. Giai đoạn 2: Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV: Giai đoạn này đã có nhiều sự đổi mới về số lượng và chất lượng. Thời kì này, vị trí của Nho giáo đã được xác lập, nền Hán 8 học ở nước ta bước vào thời kì thịnh vượng.
Đó cũng là cơ sở khoa học để lớp từ ngữ Hán Việt hoạt động một cách chuẩn xác và có hiệu quả hơn. Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt cho rằng quá trình tiếp xúc Hán Việt bắt đầu vào khoảng đầu Công nguyên và có thể chia ra làm hai giai đoạn sau: Giai đoạn 1 kéo dài đến hết thế kỉ VI- VII. Giai đoạn này chỉ lưu lại lẻ tẻ một số cách đọc gọi là Hán Việt mà không thành hệ thống. Giải thích điều này, tác giả cho rằng: “- Trong suốt 9 thế kỉ sau Công nguyên, cách đọc Hán Việt ở Việt Nam là một cách đọc luôn luôn gắn liền với những sự biến đổi xảy ra trong tiếng Hán”.[2] Giai đoạn 2 là giai đoạn cuối Đường, Ngũ đại.
Đây là giai đoạn để lại cách đọc Hán Việt hệ thống, lưu lại một ảnh hưởng sâu đậm tồn tại mãi đến ngày nay. Theo ý kiến của tác giả Phan Ngọc trong cuốn “ Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả”: - Quá trình hình thành cách đọc Hán Việt diễn ra như sau: Bắt đầu từ thế kỉ 1 TCN: Lúc đó người Việt và người Mường còn là một tộc người chung và ngôn ngữ của họ lúc bấy giờ là tiếng Việt- Mường. Khi chữ Hán chưa vào nước ta một cách ồ ạt thì người Việt Mường đã tiếp thu tiếng Hán “theo cách phát âm của người đương thời” và trong quá trình phát âm như thế, họ cũng có những sai lệch nhất định.