Chương 1. Khái quát những vấn đề cơ bản về từ ngữ xưng hô và Truyện Kiều Chương 2. Các phương tiện xưng hô trong Truyện Kiều xét trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa, ngữ dụng. 11 Chuong 1 KHAI QUAT NHUNG VAN DE CO BAN VE TU NGU XUNG HO VA TRUYEN KIEU Để tìm hiểu về từ ngữ xưng hô trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, trước tiên, luận văn xin đề cập đến những vấn đề khái quát có liên quan đến xưng hô, liên quan đến việc khảo sát, tìm hiểu, cũng như chỉ phối việc lựa chọn các từ ngữ được dùng làm phương tiện xưng hô trong tiếng Việt nói chung, trong Truyện Kiều nói riêng.
Đó là những vấn đề lí luận làm cơ sở cho việc xác định, thống kê, phân loại cũng như việc phân tích giá trị ngữ nghĩa, ngữ dụng của chúng. Từ ngữ xưng hô và những vấn đề hữu quan 1. Khái lược về xưng - hô Như đã biết, xưng hô là một vấn đề rất quan trọng trong giao tiếp hội thoại. Trong suốt cuộc giao tiếp, xưng hô có tác dụng định hướng, duy trì giao tiếp.
Trong đó: - Xung - là người nói dùng phương tiện ngôn ngữ để chỉ mình trong giao tiếp. Xưng ứng với ngôi nhân xưng thứ nhất, một người xưng thuộc ngôi một số ít, hai người xưng trở lên thuộc ngôi một số nhiều. Các phương tiện nhân xưng, thứ nhất là sự tự gi chiếu của người nói. - Hô - là người nói dùng phương tiện ngôn ngữ để gọi người thứ hai trong hoạt động giao tiếp.
Hô ứng với ngôi nhân xưng thứ hai. Để gọi một người, ta 12 dùng phương tiện ở ngôi hai số ít. Để gọi nhiều người, ta dùng phương tiện ở ngôi hai số nhiều. Các phương tiện nhân xưng ở ngôi hai là sự qui chiéw của người nói thực hiện đối với đối tác giao tiếp của mình.
Như vậy, trong giao tiếp, cả xưng và hô đều liên quan đến thuật ngữ qui chiếu. Qui chiếu là một lĩnh vực thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học (Pragmatics), một trong ba phương diện của tín hiệu ngôn ngữ (bên cạnh kết học. và nghĩa học). Phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học được Charles William chỉ 1Õ: Dụng học nghiên cứu mồi quan hệ giữa tín hiệu với người lí giải chúng.
Trong hoạt động ngôn ngữ nói chung, để xác định tính đúng sai của các diễn ngôn, cần qui chiếu chúng với sự vật nào đó được nói tới trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và tính đúng sai của một câu tuỳ thuộc vào sự qui chiếu của các từ trong câu. Lyons định nghĩa: “gui chiếu là mối quan hệ giữa từ và các sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế” [19, tr45] Còn theo Đỗ Hữu Châu: “sự chiếu vậi” (Đỗ Hữu Châu dùng thuật ngữ chiếu vật) là tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của các tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Nó là dấu hiệu đâu tiên giữa hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh) và diễn ngôn” [2, tr.25] Trong giao tiếp, liên quan đến việc xưng và hô gọi đối tượng giao tiếp, mối quan hệ giữa tín hiệu (ngôn ngữ) với người lí giải chúng thông qua sự qui chiếu được hiểu như sau: Xưng là sự tự qui chiếu của người nói để chỉ chính mình. Hô là sự qui chiếu của người nói thực hiện để chỉ đối tác giao tiếp với mình Trong ngôn ngữ, đối với phương tién xung hi từ nhân xưng thực hiện chức năng qui chiếu sự vật bằng cách qui chiếu chúng với người nói, người 13 nghe dang có mặt trong giao tiếp” [22, tr8].
Chính sự vật được qui chiếu hay người nói, người nghe ở đây trong ngôn ngữ gọi là vật qui chiếu “Vật qui chiếu là sự vật khách quan và cụ thể của thế giới bên ngoài ngôn ngữ ứng với mỗi từ cụ thể trong câu nói. Nó là mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng từ ngữ. Vì công dụng của ngôn ngữ là thông báo những sự tình của thế giới bên ngoài" [22, tr.16] Một sự vật khách quan có thể ứng với nhiều từ ngữ khác nhau trong ngôn ngữ. Ta nói những từ ấy đồng vật qui chiếu.
Cũng có trường hợp, những từ ngữ có hoặc không có vật qui chiếu. Ví dụ: - Một người cụ thể tên Nam, được con gọi là öố, vợ gọi là anh, nhân viên gọi là (hú trưởng, bạn bè thân mật gọi là “óc xoăn”. Vậy những từ: bố, anh, thứ trưởng, tóc xoăn., là đồng vật qui chiếu. - “Lấy vợ đi?" - vợ không ứng với một người cụ thể nào, vì vậy không có vật qui chiếu.
~ “Nó đánh vợ” - vợ là một người cụ thể, “vợ của nó”, nên từ vợ này có sở chỉ. (Tác giả Cao Xuân Hạo dùng thuật ngữ sở ch dé chi vat qui chiếu) [13, 55] Trong tiếng Việt, đại từ chỉ định: này, nọ, kia, áy,. không qui chiếu với sự vật cụ thể khi đứng một mình. Nhưng khi đi kèm với các danh từ, chúng qui chiếu với những sự vật cụ thể.
Ví dụ: “người đàn bà ấy” - một người cụ thể Các đại từ chỉ định này, cùng với các đại từ nhân xưng (luôn luôn có vật qui chiếu) được gọi là các từ chỉ xuất. Chúng ta có thể liệt kê hàng loạt các từ loại luôn luôn có vật qui chiếu như: các danh từ, các đại từ nhân xưng, các đại từ chỉ định, các danh ngữ được đánh dấu xác định bằng những đại từ chỉ định khi xuất hiện trong câu nói cụ thê, trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Chỉ xuất (Deixis) - Từ gốc Hy Lạp, có nghĩa là chỉ trỏ, chỉ ấn, được dùng để xử lí đặc điểm định hướng của ngôn ngữ có liên quan đến không gian và thời gian. Bắt cứ hệ thống ngôn ngữ nào cũng có tín hiệu chuyên dùng để thực hiện 14 chức năng qui chiếu.
Đó là các từ chỉ xuất. Các từ chỉ xuất trong ngôn ngữ thực hiện chức năng định vị. Định vị là xác định vị trí của người, vật được nói tới trong lời nói bằng cách qui chiếu chúng với người, vật, sự kiện được nói tới trong giao tiếp [22, tr.18-19] Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, người nói ở ngôi xưng thứ nhất thực hiện chức năng tự qui chiếu để chỉ chính mình, còn người nghe ở ngôi xưng thứ hai do người nói thực hiện chức năng qui chiếu dé chỉ đối tượng giao tiếp với mình thông qua các từ chỉ xuất. Như vậy, các danh từ, các đại từ nhân xưng, các đại từ chỉ định, các danh ngữ được đánh dấu xác định bằng những đại từ chỉ định khi xuất hiện trong câu nói cụ thể, trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể cũng có khả năng đảm nhận chức năng làm phương tiện xưng hô.
Phương thức xưng hô Liên quan đến vấn đề phương thức xưng hô trong giao tiếp, L. TômXơn đã phân chia ra ba yếu tố chính liên quan đến sự lựa chọn về phong cách diễn đạt khi nói cũng như khi viết, trong đó có việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ dùng. để làm phương tiện xưng hô như sau: ~ Nghi thức của hoàn cảnh trong đó anh ta nói hay viét. - Cương vị của người nói với người nghe hay người được nói đến.
- Thái độ của người nói với người nghe và người được nói đến (dẫn theo Định Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt), [18, tr.172] Qua đó có thể thấy, trong giao tiếp, phương thức xưng hô là cách thức lựa chon các phương tiện ngôn ngữ để sử dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng, và mục đích giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp Đỉnh Trọng Lạc trong *Phong cách học tiếng Việt” đã phân chia “hoàn cảnh giao tiếp mang tính chính thức xã hội hay không mang tính chính thức xã hội: mang tính trang nghiêm (đòi hỏi phải chuẩn bị, gọt giữa lời nói) hay mang tính chất thân mật (không chuẩn bị trước, tự do thoải mái) ” [18, tr.35] 15 Trong nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó, dụng học quan niệm về vấn đề này khá rộng. Hoàn cảnh giao tiếp gồm rất nhiều nhân tố thuộc con người, xã hội, lịch sử, văn hóa. (gọi chung là hoàn cảnh giao tiếp rộng) và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (hoàn cảnh giao tiếp hẹp) nói ở đâu, trong tình trạng tâm 1í như thế nào (buồn rầu, tức giận, yêu thương.), cung cách nào (thân mật, xã giao, nghiêm túc, đùa cợt.
Hoàn cảnh giao tiếp rộng và hẹp được gọi chung là ngữ cảnh. Qua đó, có thể rút ra kết luận rằng, ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc tạo lập và lĩnh hội phát ngôn nói chung cũng như tìm hiểu các phương tiện xưng hô xuất hiện trong những phát ngôn đó nói riêng. Ví dụ: A và B là hai người bạn thân. A là hiệu trưởng, B là giáo viên trong cùng một trường.
Trong hội họp, công tác (hoàn cảnh giao tiếp nghiêm túc, mang tính chính thức xã hội) A và B phải dùng các phương tiện xưng hô mang. sắc thái biểu cảm trung hòa hay kính trọng: /ôi, anh, đồng chí, hiệu trưởng. Nhưng khi cùng uống cà phê, họ có thể dùng: mày, fao, cậu, tớ. Đối tượng giao tiếp Đối tượng giao tiếp là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp hay còn gọi là “nhân vật giao tiếp, người tham thoại”.
Dung học rất quan tâm các yếu tố ngoài ngôn ngữ như: “nói với ai”, “ai nói và nói cho ai” [2, tr.112] ~ Ai nói: ở đây là người nói, người phát ngôn ~Nói với ai, nói cho ai: là người nhận, người nghe. Việc xác định các tiêu chí này phải căn cứ vào vai giao tiếp, quan hệ vai (hay còn gọi là “quøn hệ liên cá nhân” [2, tr.7] Liên quan đến nhân vật giao tiế „ việc phân định vai, quan hệ vai trong giao tiếp cũng rất quan trọng. Bởi đối tượng tham gia giao tiếp bao giờ cũng mang những đặc điểm về lứa tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, tầng lớp xã hộ tam li. Do các phương tiện xưng hô trong tiếng Việt phong phú và giàu màu sắc biểu cảm nên người nói phải xem đối tượng giao tiếp với mình là ai, 16 nam hay nữ, lớn tuổi hay nhỏ tuổi, thậm chí địa vị xã hội như thế nào.
để chọn phương tiện xưng hô cho phù hợp” [22, tr31] 1. Mục đích giao tiếp Mục đích giao tiếp là cái đích hướng đến trong hoạt động giao tiếp. Giao tiếp hướng vào mục đích gì: xã giao, thuyết phục, răn đe hay van xin. Mục đích giao tiếp cũng là yếu tố quan trọng để lựa chọn từ ngữ xưng hô.