Khảo sát tính chất cơ điện từ của vật liệu đơn lớp janus nibrl dựa trên cấu trúc vật liệu từ tính 2d nibr2 bằng phương pháp mô phỏng sử dụng lý thuyết phiếm hàm mật độ

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Khảo sát tính chất cơ điện từ của vật liệu đơn lớp janus nibrl dựa trên cấu trúc vật liệu từ tính, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Công nghệ Vật liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

77
8
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ PHIẾM HÀM MẬT ĐỘ (DFT)

1.1. Tổng quan về phiếm hàm mật độ

1.2. Phương trình Schrödinger

1.3. Phương pháp Hartree

1.4. Phiếm hàm tương quan trao đổi (Exchange-correlation functional)

2. CHƯƠNG 2: CÁC TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA VẬT LIỆU MX2 VÀ MXY

2.1. Tổng quan về vật liệu từ tính 2D MX2

2.1.1. Cấu trúc tinh thể

2.1.2. Tính chất điện

2.1.3. Tính chất từ

2.2. Vật liệu từ tính 2D NiBr2

2.2.1. Lí thuyết mô phỏng NiBr2

2.2.2. Cấu trúc hình học và sự ổn định của NiBr2

2.2.3. Cấu trúc vùng năng lượng đơn lớp NiBr2

2.2.4. Thực nghiệm NiBr2

2.2.4.1. Sự tăng trưởng và cấu trúc của NiBr2 trên Au (111)
2.2.4.2. Khoảng cách band gap phụ thuộc vào lớp

2.3. Tổng quan về vật liệu từ tính 2D Janus MXX’ (X≠X’)

2.3.1. Cấu trúc hình học và độ ổn định của Janus TMXX′

2.3.2. Tính chất điện tử và từ tính của đơn lớp Janus TMXX′

2.4. Vật liệu từ tính 2D NiBrI

2.4.1. Cấu trúc Janus NiIBr

2.4.2. Cấu trúc vùng năng lượng

3. CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT TÍNH CHẤT CƠ ĐIỆN CỦA VẬT LIỆU JANUS 2D NiBrI DỰA TRÊN CẤU TRÚC NIBR2 BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG SỬ DỤNG LÍ THUYẾT PHIẾM HÀM MẬT ĐỘ DFT

3.1. Phương pháp tính toán

3.2. Điện trường ngoài áp dụng NiBrI đơn lớp

3.3. Đơn lớp NiBrI khi bị áp làm biến dạng

3.4. Đơn lớp NiBrI khi được pha tạp điện tích

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát tính chất cơ điện từ của vật liệu Janus NiBrI

Khảo sát tính chất cơ, điện-từ của vật liệu đơn lớp Janus NiBrI là một lĩnh vực nghiên cứu đang thu hút sự chú ý lớn trong cộng đồng khoa học vật liệu. Vật liệu Janus, với cấu trúc không đối xứng, mang lại nhiều tiềm năng ứng dụng trong công nghệ nano và điện tử. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của NiBrI mà còn mở ra hướng đi mới cho các vật liệu tương tự.

1.1. Vật liệu Janus và ứng dụng trong công nghệ

Vật liệu Janus được biết đến với cấu trúc hai mặt khác nhau, cho phép chúng có những tính chất độc đáo. Chúng có thể được ứng dụng trong cảm biến, pin mặt trời và các thiết bị điện tử tiên tiến.

1.2. Tính chất cơ học và điện từ của NiBrI

NiBrI là một vật liệu hứa hẹn với tính chất cơ học và điện từ đặc biệt. Nghiên cứu cho thấy rằng NiBrI có thể điều chỉnh tính chất điện từ thông qua các yếu tố như điện trường và biến dạng cơ học.

II. Thách thức trong nghiên cứu tính chất cơ điện từ của NiBrI

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc khảo sát tính chất cơ, điện-từ của NiBrI cũng gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như độ chính xác trong mô phỏng và sự phức tạp trong cấu trúc vật liệu là những yếu tố cần được giải quyết.

2.1. Độ chính xác trong mô phỏng tính chất vật liệu

Mô phỏng tính chất vật liệu bằng lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) cần đảm bảo độ chính xác cao. Việc lựa chọn phương pháp và tham số mô phỏng là rất quan trọng để đạt được kết quả tin cậy.

2.2. Sự phức tạp trong cấu trúc vật liệu Janus

Cấu trúc không đối xứng của vật liệu Janus như NiBrI tạo ra nhiều thách thức trong việc phân tích và hiểu rõ các tính chất của chúng. Điều này đòi hỏi các phương pháp nghiên cứu tiên tiến và sáng tạo.

III. Phương pháp khảo sát tính chất cơ điện từ của NiBrI

Để khảo sát tính chất cơ, điện-từ của NiBrI, phương pháp mô phỏng sử dụng lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) là một lựa chọn tối ưu. Phương pháp này cho phép tính toán chính xác các đặc tính điện và từ của vật liệu.

3.1. Lý thuyết phiếm hàm mật độ DFT

Lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) là một công cụ mạnh mẽ trong nghiên cứu vật liệu. Nó cho phép tính toán các tính chất điện tử và cấu trúc của vật liệu một cách hiệu quả.

3.2. Phương pháp mô phỏng Quantum Espresso

Quantum Espresso là phần mềm mô phỏng phổ biến được sử dụng để thực hiện các tính toán DFT. Phần mềm này hỗ trợ nghiên cứu các tính chất vật liệu một cách chi tiết và chính xác.

IV. Kết quả khảo sát tính chất cơ điện từ của NiBrI

Kết quả khảo sát cho thấy NiBrI có tính chất điện từ độc đáo, với khả năng điều chỉnh thông qua điện trường và biến dạng. Những phát hiện này mở ra hướng đi mới cho nghiên cứu và ứng dụng vật liệu Janus.

4.1. Tính chất điện của NiBrI

Nghiên cứu cho thấy rằng NiBrI có thể hoạt động như một vật liệu bán dẫn, với độ rộng vùng cấm có thể điều chỉnh thông qua các yếu tố bên ngoài.

4.2. Tính chất từ của NiBrI

NiBrI thể hiện tính chất từ mạnh mẽ, có khả năng chuyển đổi giữa các trạng thái từ khác nhau khi bị tác động bởi điện trường hoặc biến dạng cơ học.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu vật liệu Janus NiBrI

Nghiên cứu tính chất cơ, điện-từ của vật liệu Janus NiBrI đã chỉ ra nhiều tiềm năng ứng dụng trong công nghệ hiện đại. Các kết quả đạt được mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các vật liệu tương tự trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu vật liệu Janus

Nghiên cứu vật liệu Janus như NiBrI không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tính chất vật liệu mà còn thúc đẩy sự phát triển của công nghệ nano và điện tử.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc tối ưu hóa cấu trúc và tính chất của NiBrI, cũng như khám phá các vật liệu Janus mới với tính chất độc đáo.

11/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ PHIẾM HÀM MẬT ĐỘ (DFT) 1.1 Tổng quan về phiếm hàm mật độ 1.1 Phương trình Schrödinger Lý thuyết hàm mật độ đã được coi là một phương pháp tiếp cận phổ biến nhất cho các hợp chất nhiều electron, chẳng hạn như các hợp chất hữu cơ phức tạp và chất rắn ở dạng mật độ electron trong không gian ba chiều. Hầu hết các tính toán DFT đều dựa trên lí thuyết Kohn–Sham, bao gồm việc lấp đầy các electron trong N quỹ đạo. Hohenberg và Kohn đã chứng minh rằng tổng năng lượng ở trạng thái cơ bản E là một hàm của mật độ electron [16]. Và một trong những điều cơ bản mà chúng ta muốn hiểu rõ về các nguyên tử là năng lượng của chúng và đặc biệt là năng lượng của chúng sẽ bị thay đổi như thế nào nếu chúng ta di chuyển hoặc thay đổi các nguyên tử xung quanh.

Vị trí của một nguyên tử được xác định khi ta xác định được vị trí của hạt nhân và cả electron của nguyên tử đó. Một quan sát quan trọng trong việc áp dụng cơ học lượng tử cho các nguyên tử là hạt nhân nguyên tử nặng hơn nhiều so với các electron riêng lẻ; mỗi proton hoặc neutron trong hạt nhân có khối lượng lớn hơn 1800 lần khối lượng của electron. Do đó các electron sẽ bị tác động và phản ứng với những thay đổi trong môi trường xung quanh nhanh hơn nhiều so với hạt nhân. Vì vậy chúng ta cần giải các phương trình mô tả chuyển động của electron đối với hạt nhân cố định và trong một tập hợp bao gồm nhiều hạt nhân thì sẽ có một tập hợp các electron chuyển động xung quanh do đó chúng ta cần tìm thấy cấu hình hoặc trạng thái năng lượng thấp nhất của các electron.

Trạng thái năng lượng thấp nhất được gọi là trạng thái cơ bản và là trạng thái bền vững của các electron, việc tách hạt nhân và electron thành các bài toán riêng biệt là phép gần đúng Born – Oppenheimer. Nếu chúng ta có M hạt nhân ở các vị trí R1, ., RM, thì chúng ta có thể biểu diễn năng lượng ở trạng thái cơ bản E, như một hàm của vị trí của các hạt nhân này, E (R1, ., RM) và được xem là thế năng xấp xỉ bề mặt (adiabatic potential energy surface) của hệ lượng tử. Khi tính toán bề mặt thế năng này, chúng ta có thể giải quyết vấn đề ban đầu đặt ra ở trên - năng lượng của vật liệu thay đổi như thế nào khi chúng ta di chuyển các nguyên tử của nó xung quanh. Phương trình Schrödinger - dạng chuẩn, không phụ thuộc thời gian, không tương đối tính (nonrelativistic) được thể hiện như sau: Ĥ Ψ = EΨ (1.1) Trong đó, Ψ là hàm sóng của toán tử Hamilton H ̂ , E là trị riêng năng lượng của ̂.

Như vậy, với mỗi kết quả, Ψn là hàm sóng, có trị triêng năng lượng En, là một số thực H thỏa mãn phương trình (1. Nhưng điều đáng quan tâm và phức tạp hơn là nhiều electron tương tác với nhiều hạt nhân. Đối với trường hợp này thì phương trình Schrödinger được mô tả và biểu diễn đầy đủ hơn như sau: 3 N N N h2 [ ∑ ∇2i + ∑ V(𝐫i ) + ∑ ∑ U(𝐫i , 𝐫j )] ψ = Eψ (1.2) 2m i=1 i=1 i=1 j<i Ở đây, m là khối lượng electron. Ba số hạng trong ngoặc (∇2i , V(𝐫i ), U(𝐫i , 𝐫j )) trong phương trình này xác định theo thứ tự lần lượt là động năng của mỗi electron, thế năng tương tác giữa các electron với tập hợp các hạt nhân nguyên tử và năng lượng tương tác giữa các electron khác nhau.

Đối với Hamiltonian mà chúng ta đã chọn, ψ là hàm sóng điện tử, là hàm của từng tọa độ không gian của từng N electron, vì vậy ψ = ψ(r1 ,. , rN ) và E là năng lượng ở trạng thái nền của các electron. Năng lượng ở trạng nền không phụ thuộc vào thời gian, vì vậy đây là phương trình Schrödinger không phụ thuộc vào thời gian. Mặc dù hàm sóng của electron là một hàm của từng tọa độ của tất cả N electron, nhưng nó là có thể tính xấp xỉ ψ như một tích của các hàm sóng điện tử riêng lẻ, ψ = ψ1 (𝐫)ψ2 (𝐫), … , ψN (𝐫).

Biểu thức này cho hàm sóng được gọi là tích Hartree, và có những tác động tích cực để xấp xỉ hàm sóng đầy đủ thành tích của các hàm sóng một electron riêng lẻ theo kiểu này. Số lượng electron lớn hơn nhiều so với số lượng hạt nhân và mỗi nguyên tử chỉ có một hạt nhân và có nhiều electron quay quanh hạt nhân đó. Lý thuyết hàm mật độ cố gắng giải quyết cả tính không chính xác của Hartree-Fock và nhu cầu tính toán cao của các phương pháp sau Hartree-Fock bằng cách thay thế hàm sóng electron nhiều vật thể bằng mật độ electron làm đại lượng cơ bản. Trong khi hàm sóng của một hệ N electron phụ thuộc vào 3 biến N (ba biến không gian cho mỗi N electron) ví dụ phân tử CO2 có 22 electron nhưng xét trong không gian mỗi electron sẽ có 3 chiều cho nên có đến hàm sóng 66 chiều cho 22 electron.

Toán tử Hamiltonian H ̂ là sự tương tác giữa electron với electron. Để giải được phương trình thì chúng ta cần xem xét các hàm sóng của các electron riêng lẻ liên kết với các electron khác. Mặc khác có thể xem phương trình Schrödinger là phương trình có nhiều phần. Việc giải phương trình Schrödinger được coi là một bài toán cơ học lượng tử cơ bản, nhưng hàm sóng của bất kì tọa độ nào cũng không thể xác định được trực tiếp nhưng ta có thể xác định được mật độ xác suất để N electron xuất hiện ở vùng không gian nhỏ quanh vị trí cụ thể tại 𝐫1 , … , 𝐫𝑁.

Xác suất này bằng với ψ∗ (𝐫1 , … , 𝐫𝑁 )ψ(𝐫1 , … , 𝐫𝑁 ) (trong đó dấu * biểu thị cho liên hợp phức của hàm sóng). Một điểm nữa cần lưu ý là trong các thí nghiệm, chúng ta thường không quan tâm đến các electron nào trong vật liệu được đánh dấu là electron 1, electron 2… Nếu cần quan tâm thì thật khó để đánh dấu các electron. Đại lượng vật lý quan tâm thực sự trong thực nghiệm là xác suất mà một tập hợp N electron theo bất kỳ thứ tự nào có tọa độ 𝐫1 , … , 𝐫𝑁. Do đó, một đại lượng đặc trưng cho hệ nhiều electron là mật độ của các electron tại một vị trí cụ thể trong không gian, n(r) và có thể được thể hiện dưới dạng các hàm sóng điện tử riêng: 4 n(𝐫) = 2 ∑ ψ∗i (𝐫)ψi (𝐫) (1.3) i Biểu thức trên là tổng tất cả các hàm sóng điện tử riêng lẻ bị chiếm bởi các điện tử, vì vậy số hạng bên trong tổng là xác suất mà một điện tử trong hàm sóng riêng ψi (r) nằm ở vị trí r.

Năng lượng của hàm sóng là tổng của các năng luôn quỹ đạo quay, phương trình Hartree không thỏa mãn cho các phương trình hàm sóng vì các electron là các fermion nên hàm sóng phài đổi dấu khi hai electron đổi chỗ cho nhau. Việc trao đổi hai electron không làm thay đổi dấu của tích Hartree là một nhược điểm nghiêm trọng, nhưng chúng ta có thể đạt được hàm gần đúng cho hàm sóng bằng cách sử dụng định thức Slater. Điều quan trọng chính là mật độ của electron n(r), là hàm chỉ có ba tọa độ, chứa nhiều dữ liệu và thông tin để có thể quan sát được về mặt vật lý từ nghiệm của hàm sóng đầy đủ khác với hệ phương trình Schrödinger phải có đến 3N tọa độ. Mật độ chỉ là một hàm của ba biến và là một đại lượng được đơn giản hóa để kết quả của lí thuyết và thực nghiệm phù hợp hơn, trong khi electron mối tương quan được đưa vào một cách gián tiếp ngay từ đầu.

DFT hiện đại dựa trên hai định lý của Hohenberg và Kohn (1964) [18]. Định lý đầu tiên phát biểu rằng Năng lượng trạng thái nền từ phương trình Schrödinger là một phiếm hàm duy nhất của mật độ electron. Định lý thứ hai chứng minh rằng Mật độ electron trạng thái nền xác định duy nhất toàn bộ các tính chất, bao gồm năng lượng và hàm sóng của trạng thái nền. Điều này được hiểu đơn giản là việc giải phương trình Schrödinger bằng cách tìm hàm của ba biến trong không gian (hàm mật độ electron) thay vì đi tìm hàm của 3N biến (hàm sóng).

Mục đích giải phương trình Schrödinger chính xác hơn là tìm được mức năng lượng ở trạng thái cơ bản, vì vậy trong tập hợp cấu trúc nano platin có đến 23000 biến nhưng với lý thuyết phiếm hàm mật độ chúng ta chỉ cần giải hệ phương trình có 3 biến. Mặc dù định lí Hohenberg - Kohn thứ nhất chứng minh rằng tồn tại hàm mật độ electron để giải phương trình Schrödinger nhưng không nói rõ hàm cụ thể là gì. Định lí Hohenberg -Kohn thứ hai đã xác định được tính chất quan trọng của hàm: mật độ electron ở mức năng lượng cơ bản mô tả mật độ electron thực tương ứng với nghiệm đầy đủ của phương trình Schrödinger. Nếu biết được dạng hàm đúng thì ta có thể thay đổi mật độ electron cho đến khi mức năng lượng giảm đến mức nhỏ nhất kết quả là một công thức để tìm mật độ của các electron liên quan.

Nguyên lý này được sử dụng dưới dạng gần đúng của hàm xấp xỉ. Hàm sóng đơn cho một electron ψi (𝐫) được định lí Hohenberg-Kohn được viết: ℎ2 2 [ 𝛻 + 𝑉(𝒓) + 𝑉𝐻 (𝒓) + 𝑉𝑋𝐶 (𝒓)] ψi (𝐫) = ԑi ψi (𝐫) (1.4) 2𝑚 Phương trình (1.4) được gọi là phương trình Kohn-Sham, có dạng tương tự như phương trình (1.1) sự khác chính là các phương trình Kohn-Sham thiếu các tổng xuất hiện bên trong phương trình Schrödinger đầy đủ nguyên nhân do nghiệm các phương trình của Kohn-Sham là các hàm sóng dành cho một electron phụ thuộc vào ba biến trong không gian ψi (𝐫), trong phương trình (1.4) gồm: 5 h2 ∇2 : Động năng của cả hạt nhân 2m V(r): Hàm thế xác định tương tác giữa electron và tập hợp các hạt nhân nguyên tử. VH (r): Hàm thế Hartree tương tác giữa các ion và electron Vxc (r): Hàm thế tương quan - trao đổi (Exchange-correlation potential) xác định các đóng góp trao đổi và tương quan cho các phương trình electron đơn lẻ. Là cái khó nhất khi tính phương trình Kohn - Sham.

Vế trái của phương trình Kohn–Sham có ba điện thế V, VH và VXC. Các thế năng này mô tả lực đẩy Coulomb giữa electron đang được xét trong một trong các phương trình Kohn –Sham và tổng mật độ electron được xác định bởi tất cả các electron trong bài toán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Tính Chất Cơ, Điện-Từ Của Vật Liệu Đơn Lớp Janus NiBrI" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc tính cơ học và điện từ của vật liệu Janus NiBrI, một loại vật liệu mới có tiềm năng ứng dụng cao trong công nghệ nano và điện tử. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của vật liệu mà còn chỉ ra những ứng dụng tiềm năng trong các lĩnh vực như cảm biến, pin mặt trời và thiết bị điện tử.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vật liệu tương tự, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ tính toán một số thông số đặc trưng cho tính chất điện tử của vật liệu nano diamondoids c10h16 c87h76 bằng phương pháp ab initio luận văn ths vật liệu và linh kiện nano, nơi nghiên cứu về tính chất điện tử của vật liệu nano. Ngoài ra, tài liệu Chuyển pha kim loại điện môi từ trong một số hệ điện tử tương quan trao đổi kép cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các hiện tượng chuyển pha trong vật liệu điện tử. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Thực nghiệm chế tạo hệ perovskite kép ca3mn2o7 pha tạp fe x 0 025 0 15 và nghiên cứu tính chất điện từ của chúng, tài liệu này sẽ giúp bạn nắm bắt được các tính chất điện từ của hệ perovskite, một lĩnh vực đang được nghiên cứu mạnh mẽ hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về các vật liệu tiên tiến trong khoa học vật liệu.