ĐẶT VẤN ĐỀ SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS. Nguyễn Tấn Phát Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới nóng ẩm, người dân tiếp xúc nhiều với bùn đất ẩm ướt kéo dài chính là điều kiện thuận lợi cho các loài vi khuẩn, vi nấm phát triển mạnh, các bệnh về da và niêm mạc do nấm, nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng (Al-Alawi và cs. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc để trị bệnh ngày càng gia tăng, phương pháp chữa trị hiện nay chủ yếu là dùng kháng sinh nên dẫn đến tình trạng kháng thuốc của vi sinh vật (Trần Xuân Thuyết, 2011).
Vào năm 2013, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam được xếp vào danh sách các nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới (Theo WHO, 2013). Ở Châu Âu mỗi năm, số ca nhiễm và tử vong do vi khuẩn đa kháng thường gặp nhất thường là Escherichia coli, Enterococcus faecium, Streptococcus pneumoniae, Klebsiella pneumonia, Pseudomonas aeruginosa (Francesca và cs. Nhiễm trùng thông thường trong chăm sóc sơ sinh đang ngày càng trở nên cực kỳ khó khăn, và đôi khi không thể điều trị (Francesca và cs. Vì vậy, việc tìm ra nguồn thuốc mới thay thế cho các thuốc đang sử dụng trở nên cấp thiết trong đó thực vật là những nguồn đầy tiềm năng đang được quan tâm.
Ổi (Psidium guajava L.) chứa nhiều hợp chất phenolic ức chế phản ứng peroxid hóa trong cơ thể, do đó nó có thể ngăn chặn các bệnh mãn tính khác nhau như bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư. Hơn nữa, ổi làm giảm lượng phóng xạ tự do trong cơ thể, có nghĩa là các polyphenol trong lá ổi có thể ngăn ngừa xơ vữa động mạch, đục thủy tinh thể và cũng ức chế lão hóa sinh học của cơ thể và da. Lá ổi chứa triterpenes, cineol và tannin. Ngoài ra, ba lavonoid (avicularin, guaijaverin và quercetin) đã được phân lập từ lá.
Trong lá trưởng thành, nồng độ flavonoid lớn nhất được tìm thấy trong: Quercetin > Myricetin > Kaempferol > Luteolin (Anand và cs. Ổi (Psidium guajava L.) rất giàu các chất chống oxy hóa, vitamin C, kali và chất xơ. Những thành phần dinh dưỡng này chính là những yếu tố làm nên lợi ích nhiều mặt về sức khỏe của trái ổi. Trong một số nghiên cứu, cây ổi (Psidium guajava L.) cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đối với vi khuẩn gây bệnh đáng kể như Staphylococcus spp., Escherichia coli, Clostridium spp, Pseudomonas spp (Abdeirahirn và cs.
SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm 2 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS. Nguyễn Tấn Phát Năm 2005, Mecks và cộng sự đã nghiên cứu ra được có hơn 20 hợp chất hoạt tính sinh học đã được chiết từ lá, thân, vỏ và rễ của cây ổi (Meckes và cs. Lá ổi được sử dụng để điều trị tiêu chảy và đau bụng.
Lá ổi đã được sử dụng ở Mỹ như là kháng sinh ở dạng thuốc bôi hoặc thuốc sắc cho vết thương, loét và đau răng (Meckes và cs. Theo kết quả nghiên cứu của Xavier và cộng sự (2016) đã cho thấy được hoạt tính của hợp chất Akaloids được chiết xuất từ cây ổi có thể điều trị bệnh viêm dạ dày mạn tính do vi khuẩn Helicobacter pylori gây ra (Xavier và cs. Mohammed và cộng sự (2016) đã cho thấy sự hiện diện của tanin, flavonoid, steroid, terpenoid, và phenol có trong dịch chiết lá cây ổi với các dung môi nước, ethanol, chloroform. Sau đó Mohammed và cộng sự đã đưa ra khả năng kháng vi khuẩn Salmonella typhi, Salmonella paratyphi A và Salmonella paratyphi B của cao chiết nước bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch là cao nhất với đường kính kháng khuẩn tương ứng lần lượt là: 8mm, 9,6 mm, 12 mm (Mohammed và cs.
Theo nghiên cứu của Alamin và cộng sự (2016), cao ethyl axetat có khả năng kháng với MRSA là 13,50 ± 0,50 mm 600 mg/ mL và E.coli là 10,75 ± 0,48 tương ứng với nồng độ 600 mg/ mL. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về việc sử dụng các hợp chất từ lá ổi để kháng lại các vi khuẩn gây bệnh. Từ những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát tiềm năng kháng khuẩn từ cao chiết lá cây ổi (Psidium guajava L. Mục tiêu: nhằm nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của nhiều loại cao chiết từ lá cây ổi, từ đó tạo tiền đề để nghiên cứu sản xuất các hợp chất kháng vi khuẩn gây bệnh trên người.
Nội dung thực hiện bao gồm: • Chiết xuất cao dược liệu từ lá cây ổi • Thử nghiệm độ nhiễm khuẩn của cao chiết. • Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn gây bệnh của cao chiết. • Xác định nồng độ ức chế tối thiểu của cao chiết từ lá cây ổi với vi khuẩn gây bệnh. • Điều chế các phân đoạn của cao chiết.
SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm 3 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS. Nguyễn Tấn Phát • Khảo sát khả năng kháng khuẩn của từng phân đoạn. • Phân lập hợp chất tự nhiên trong lá cây ổi có khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp sắc ký cột.
SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm 4 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS. Nguyễn Tấn Phát PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS.
Nguyễn Tấn Phát 1.1 Tổng quan về nguyên liệu 1.1 Sơ lược về cây ổi (Psidium guajava L.) Cây ổi có tên khoa học là Psidium guajava L. là loại cây ăn quả thường xanh lâu năm, thuộc họ Đào Kim nương, có nguồn gốc từ Brasil được Linnaeus Mô tả khoa học đầu tiên vào năm 1753 (Linnaeus, 1753). Tên gọi khác: Phan thạch lựu (vị thuốc), Kê thỉ quả (vị thuốc). Tên tiếng Anh: Apple guava, Common guava.
Tên tiếng Pháp: Goyavier. Tên khoa học: Psidium guajava L. Phân loại khoa học của cây ổi: Giới: Plantae Bộ: Myrtales Họ: Myrtaceae Chi: Psidium Loài: P. Cây ổi (Psidium guajava L.) Theo Hệ thống APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) (2003), ổi thuộc Bộ Sim hay Bộ Đào kim nương (Myrtales) chứa 11 họ với 380 chi và trên 11.
Hệ thống APG III công bố tháng 10 năm 2009 công nhận bộ này có 11 họ. SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm 6 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS. Nguyễn Tấn Phát 1.
Nguồn gốc và sự phân bố Ổi có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, hiện được trồng ở nhiều nơi. Cây ổi thuộc Họ Sim (Myrtaceae) có khoảng 3.000 loài, phân bổ trong 130-150 chi. Chúng phân bổ rộng khắp ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp trên thế giới. Chi Ổi (Psidium) có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ với khoảng 100 loài cây bụi.
Trong đó có nhiều loài cây có quả ăn được và có giá trị kinh tế lớn. Cây ổi được trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khắp thế giới kể từ khi Châu Âu chiếm đóng Châu Mỹ. Hiện nay cây ổi được trồng nhiều ở các nước thuộc Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á, vùng Caribbean, cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, và Úc. Qua quá trình trồng trọt và chọn lọc giống, hiện nay các giống ổi cũng rất phong phú, đa dạng.
Ngoài giống ổi thường (Psidium guajava L.) phổ biến khắp thế giới, còn có những giống ổi đặc biệt của địa phương như: ổi trâu, ổi bo, ổi xá lị có quả to nhưng kém thơm ngọt; ổi mỡ, ổi găng, ổi đào, ổi nghệ tuy quả nhỏ nhưng ngọt và rất thơm. Ở Việt Nam cây ổi thường (Psidium guajava L.) được nhập vào trồng từ lúc nào không rõ và nó được phát triển trên khắp cả nước từ đồng bằng ven biển cho đến vùng núi có độ cao khoảng 1500 m trở xuống. Ngày nay ngoài giống ổi ta bình thường, ở Việt Nam còn trồng các giống ổi mới như ổ Xá lị nhập từ Trung Quốc và ổi không hạt được phổ biến gần đây nhờ công nghệ chọn giống hiện đại.3 Đặc điểm hình thái Cây ổi là loài cây tiểu mộc, sống lâu năm, có thể đến 60 - 70 năm. Rễ cây ổi: Rễ ổi là rễ cọc.
Các giống ổi khi trồng bằng hạt thường có bộ rễ chính ăn sâu xuống đất. Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột độ ẩm trong đất. Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có khả năng phát triển nhanh một số rễ thẳng SVTH: Nguyễn Đoàn Thanh Liêm 7 GVHD: ThS. Dương Nhật Linh Khóa Luận Tốt Nghiệp TS.
Nguyễn Tấn Phát đứng ăn sâu xuống đất tận 3 - 4 m và hơn. Nếu mưa nhiều, mực nước dâng cao ổi đâm nhiều rễ ăn trở lại mặt đất do đó không bị ngạt. Thân cây ổi: Thân phân cành nhiều, cao 4 - 6 m, cao nhất 10 m, đường kính thân tối đa 30 cm. Những giống mới còn nhỏ và lùn hơn nữa.
Thân cây chắc, khỏe, ngắn vì phân cành sớm. Thân nhẵn nhụi rất ít bị sâu đục, vỏ già có thể tróc ra từng mảng phía dưới lại có một lượt vỏ mới cũng nhẵn, màu xám, hơi xanh. Cành non 4 cạnh, khi già mới tròn dần (Hồ Đình Hải, 2012). Lá cây ổi: Lá đơn, mọc đối, không có lá kèm.
Phiến lá hình bầu dục, gốc thuôn tròn, đầu có lông gai hoặc lõm, dài 11 - 16 cm, rộng 5 - 7 m, mặt trên màu xanh đậm hơn mặt dưới. Bìa phiến nguyên, ở lá non có đường viền màu hồng tía kéo dài đến tận cuống lá. Gân lá hình lông chim, gân giữa nổi rõ ở mặt dưới. Cuống lá màu xanh, hình trụ dài 1 - 1,3 cm, có rãnh cạn ở mặt trên.
Hoa ổi: Hoa to, lưỡng tính, mọc từng chùm 2, 3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá. Cánh hoa màu trắng mỏng, dễ rụng khi hoa nở. Hoa thụ phấn chéo dễ dàng nhưng cũng có thể tự thụ phấn. Quả ổi: Quả hình tròn, hình trứng hay hình quả lê, dài 3 - 10 cm tùy theo giống.
Vỏ quả còn non màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng, thịt vỏ quả màu trắng, vàng hay ửng đỏ. Ruột trắng, vàng hay đỏ. Quả chín có vị chua ngọt hay ngọt và có mùi thơm đặc trưng, có thể ăn tươi, làm mứt hay làm nước giải khát. Hạt ổi: Hạt nhiều, màu vàng nâu hình đa giác, có vỏ cứng và nằm trong khối thịt quả màu trắng, hồng, đỏ vàng.
Từ khi thụ phấn đến khi quả chín khoảng 100 ngày. Ổi là cây ăn quả phổ biến, được trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng lẫn ở miền núi, trừ vùng cao trên 1500 m. Cây ưa sáng, sinh trưởng phát triển tốt trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Giới hạn về nhiệt độ từ 15 - 45 oC, nhiệt độ tốt nhất cho cây sinh trưởng và cho nhiều quả là từ 23 - 28 oC; lượng mưa 1000 - 2000 mm/năm.