Chương 1. Tổng quan về thơ ca Phan Bội Châu Châu thời kỳ 1925 - 1940 1. Hoàn cảnh sáng tác 1. Tình hình chung về chính trị, xã hội và văn hóa Việt Nam nói chung và Huế nói riêng từ 1925 đến 1940 Những năm 20 của thế kỉ XX, xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc về chính trị, xã hội và văn hóa, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống.
Trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu vào liệt kê những sự thay đổi đó mà chỉ đưa ra những điểm quan trọng ảnh hưởng đến đời sống văn học nghệ thuật nói chung, đến cá nhân Phan Bội Châu nói riêng. Phan Bội Châu bị bắt về nước đúng vào lúc trong nước cách mạng đã chuyển sang hướng mới. Nhiệm vụ lớn nhất của dân tộc vẫn là cứu nước và duy tân, nhưng về bản chất đã khác với thời của Phan Bội Châu – thế hệ nhà Nho chí sĩ tự nhận lấy trọng trách lịch sử mà vốn dĩ là của giai cấp tư sản. Từ năm 1918, Nguyễn Ái Quốc đã bước vào hành động chính trị.
Trong nước, giai cấp công nhân đã giác ngộ tham gia đấu tranh cách mạng; thanh niên trí thức đã bắt đầu làm quen với tư tưởng Macxit. Trước năm 1925, dân tộc đã thức tỉnh bằng tấm gương duy tân của Nhật Bản. Sau 1925, phong trào đấu tranh trong nước lấy cách mạng vô sản của nước Nga làm tấm gương, tìm con đường giải phóng trong cuộc đấu tranh chung của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức. Phong trào dân tộc, dân chủ trong nước đã có những biến đổi về chất và người dẫn đường không phải là những nhà Nho chí sĩ, cũng không phải là tầng lớp tư sản mà là giai cấp vô sản.
Cùng với sự gia tăng đầu tư khai thác thuộc địa sau chiến tranh của thực dân Pháp, đời sống kinh tế và xã hội nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ. Một nền kinh tế với kiến trúc đa ngành đã xuất hiện. Một hệ thống đô thị đã hình thành và phát triển. Một nền giáo dục Pháp – Việt, sau nhiều lần cải cách và tìm kiếm những mô hình hợp lý, dĩ nhiên trong khuôn khổ một xã hội thuộc địa, đã phát huy tác dụng.
Các cơ sở in ấn, xuất bản đã xuất hiện ở các thành phố lớn. Hàng loạt những 12 tờ báo, tạp chí chữ Pháp và Quốc ngữ đã ra đời. Đó chính là những tiền đề để tiếp nhận những trào lưu tư tưởng mới, những thành tựu khoa học – kỹ thuật, những loại hình văn học – nghệ thuật phương Tây tràn vào. Chính vì vậy, những năm 20, 30 của thế kỉ XX là giai đoạn giao thoa, đan xen giữa các giá trị văn hoá truyền thống và văn hoá ngoại nhập, giữa nền văn hoá thực dân và nền văn hoá mới, văn hoá tiến bộ, cách mạng.
Chính quyền thực dân sớm có ý thức sử dụng văn hoá như một thứ vũ khí được quảng bá cho tư tưởng "Pháp – Việt đề huề", "Pháp - Nam hợp tác", tạo ra một bầu không khí chính trị ổn định có lợi cho việc gọi vốn đầu tư vào Đông Dương. Sự thay đổi trong đường lối cai trị của thực dân Pháp kéo theo sự thay đổi của các phương tiện truyền thông. Pháp đã cho phép Phạm Quỳnh ra tờ Nam Phong tạp chí 1917) và cho lập Hội Khai trí Tiến Đức (1919) để tập hợp lực lượng trong giới thượng lưu. Trên các phương tiện thông tin đại chúng lúc đó xuất hiện những bài viết của các học giả thân Pháp tán dương chủ trương "Pháp - Việt đề huề", trình bày các chủ thuyết cai trị như thuyết "Trực trị" và thuyết "Quân chủ lập hiến".
Cùng với những việc trên, báo chí thực dân đã bắt đầu tung ra những bài viết bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản, lãnh tụ Lênin và cách mạng tháng Mười Nga. Đối lập với nền văn hoá thực dân, văn hoá nô dịch đó là nền văn hoá mới tiến bộ, cách mạng. Khởi đầu là dòng báo chí tiến bộ với tờ báo La Cloche fêlée (Chuông rạn) và L’Annam (Nước Nam) đều ra đời cuối năm 1923 của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Tiếp đó, xuất hiện các Thư xã (Nhà xuất bản) Sài Gòn, Huế, Hà Nội, nhờ đó mà các tác phẩm văn học mới định hình dần, được giới thiệu với đông đảo công chúng và ngày càng được được người dân thành thị đón nhận.
Văn học hiện đại hình thành theo quỹ đạo văn học thế giới với ba bộ phận: tự sự, trữ tình và kịch. Năm 1922 vở kịch nói đầu tiên Chén thuốc độc của Vũ Đình Long được công diễn thành công tại Nhà hát lớn Hà Nội. Phong trào Thơ Mới hình thành (năm 1932 với bài thơ Tình già của Phan Khôi). Còn văn xuôi cũng đã có những thành tựu đáng ghi nhận mà tiểu thuyết Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách là dấu ấn quan trọng.
Giữa bộn bề đời sống văn hóa đó, Phan Bội Châu gia 13 nhập đời sống văn học nghệ thuật công khai ở thành thị, tham gia viết văn làm thơ đăng báo hợp pháp. Một điều ảnh hưởng khá lớn đến văn chương Phan Bội Châu thời gian này là môi trường sống tại Huế. Thừa Thiên Huế là nơi tập trung cao nhất sự câu kết giữa thực dân Pháp và phong kiến Nam triều. Sau cuộc khởi nghĩa năm 1916 ở Huế thất bại, các thế lực thống trị càng củng cố bộ máy cai trị chặt chẽ hơn.
Vua Duy Tân - vị vua yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa Thái Phiên - Trần Cao Vân bị đưa đi đày tại đảo Réunion. Tiếp đó, thực dân Pháp lập những ông vua bù nhìn lên ngôi: Khải Định (1916 - 1925); Bảo Đại (1926 - 1945). Thực dân Pháp tiến hành thâu tóm quyền lực, sáp nhập ngân sách Nam triều vào ngân sách Trung kỳ của Pháp, Khâm sứ Pháp chủ tọa các cuộc họp của Hội đồng Thượng thư. Như vậy quyền hành đã nằm hoàn toàn trong tay Pháp, biến vua quan nhà Nguyễn thành công cụ thừa hành của chúng.
Khi Phan Bội Châu bị bắt về an trí tại Huế, Thừa Thiên Huế bắt đầu tiếp thu con đường cứu nước theo cách mạng vô sản, tạo nên những chuyển biến mới trong đấu tranh. Ở Thừa Thiên Huế xuất hiện nhiều tác phẩm của Mác, Ăng ghen như: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Tư bản luận cùng nhiều bài viết ca ngợi thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga. Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài, cùng với những tác phẩm của Người như: Bản án chế độ thực dân Pháp, báo La Paria cũng tác động rất sâu sắc tới nhận thức tư tưởng của thanh niên trí thức Huế, hướng dẫn họ tham gia vào các hoạt động cách mạng. Phong trào yêu nước của nhân dân Thừa Thiên Huế diễn ra trên nhiều mặt, đặc biệt sôi nổi trên lĩnh vực báo chí và nghị trường.
Báo chí cách mạng xuất bản công khai đã ra sức tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương đường lối, phương hướng hoạt động của Đảng. Trong những năm 1927 - 1938, ở Huế có khoảng 20 tờ báo lần lượt ra đời, trong số đó, tờ Nhành lúa, Sông Hương tục bản, Dân và Tiếng Dân đóng vai trò quan trọng trong cuộc vận động dân chủ ở đây. Còn trong Viện dân biểu Trung Kỳ đã có đại biểu của nhân dân như Huỳnh Thúc 14 Kháng, Nguyễn Đăng Quế. mặc dù quyền lực bị hạn chế nhưng đã trở thành diễn đàn đấu tranh giữa lực lượng yêu nước tiến bộ chống lại thực dân phong kiến.
Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931, cao trào cách mạng 1936 - 1939 được coi là cuộc tổng diễn tập thứ hai của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trước khi tiến hành Tổng khởi nghĩa. Giữa những ngày Huế sục sôi, khi phong trào giải phóng dân tộc đã đi theo một phương hướng mới, gắn với cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp vô sản lãnh đạo, Phan Bội Châu càng ngày càng trở nên xa lạ với đời sống cách mạng. Không phải Phan Bội Châu không thích chủ nghĩa xã hội mà ngược lại. Nhưng ông quan niệm chủ nghĩa xã hội một cách khác và không hiểu được phong trào đấu tranh cách mạng của công nông.
Phong trào chính trị càng phát triển thì Phan Bội Châu càng trở nên bỡ ngỡ, cô độc. Điều này sẽ được phản ánh một cách rõ rệt trong những sáng tác của Phan Bội Châu giai đoạn cuối đời: những ngỡ ngàng, lo lắng, những cảm giác lạc lõng, cô độc… Sống giữa không khí cách mạng sôi sục nhưng không được trực tiếp tham gia hoạt động khiến ông bị thời đại vượt qua. Không những vậy, từ chỗ bị lạc hậu về đường lối hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu cũng bị vượt qua trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Hoàn cảnh sống của Ông già Bến Ngự Ngày 30 tháng 6 năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và giải về nước xử án chung thân, mặc dù trước đó (1912), ông đã bị kết án tử hình vắng mặt.
Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội Châu, ông được về an trí tại Bến Ngự - Huế. Phan Bội Châu về sống tại dốc Bến Ngự, gần chùa Từ Đàm, trong ngôi nhà ba gian, cột gỗ lợp lá, vách trát đất. Ngôi nhà được dựng lên từ tiền đồng bào cả nước gửi biếu. Vì sống ở ngôi nhà gần dốc Bến Ngự, nên nhân dân thường gọi ông là "Ông già Bến Ngự".
Là người tù bị giam lỏng, ông sống dựa vào sự giúp đỡ của đồng bào và bạn bè, trong hoàn cảnh bị quản thúc: 15 Đêm nghe con Vá1 chào ông trộm Ngày bảo thằng Nghi2 kể chuyện tù Ông tự đánh giá đời mình là: Trời đất may còn thân sống sót Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh (Bài ca chúc tết thanh niên) nghĩa là sống đó mà vô nghĩa, không có ích. Khi viết Phan Bội Châu niên biểu, ông cũng không viết về mười lăm năm cuối đời vì cho rằng đó là đời bỏ đi, không nên ghi lại. Thời gian đầu, ông vẫn còn có những hoạt động gắn liền với quần chúng cách mạng, nhất là tầng lớp thanh niên học sinh như diễn thuyết tại trường Quốc học Huế tháng 1 và tháng 3 năm 1926, tại trường Nữ học Đồng Khánh Huế tháng 3 năm 1926, nói chuyện với Hội Nữ công Huế tháng 6 năm 1926… Nhưng rồi những hoạt động như vậy cũng dần bị hạn chế và chấm dứt dưới sự kiểm soát của thực dân Pháp và tay sai. Trong hoàn cảnh sống bị giám sát nghiêm ngặt, ông dạy vài đứa học trò nhỏ, viết một số thơ phú, truyện ngắn gửi đăng các báo, nhiều nhất là báo Tiếng Dân.