CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Từ láy tiếng việt 1.1Khái niệm về từ láy Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.2 Cấu tạo của từ láy - Về hình thức ngữ âm cũng là một âm tiết như từ tố cơ sở có hình thức ngữ âm và nghĩa giống hoàn toàn hay bộ phận với từ tố cơ sở. - Từ tố có thể giống từ tố cơ sở về toàn bộ âm tiết, hoặc về phụ âm đầu hay phần vần. - Về thanh điệu nếu từ láy hai âm tiết có thanh điệu đi với nhau theo nhóm thanh: thanh cao (hỏi, sắc, không); nhóm thấp (huyền, ngã, nặng). - Cả từ tố cơ sở và từ tố láy hợp lại thành từ láy.
Để nhận biết một từ láy, cần xem xét hai âm tiết trong một từ phức hai âm tiết xem có đáp ứng đủ những đặc điểm kể trên hay không. Ví dụ: + Nằng nặng: từ này 2 âm tiết, từ tố cơ sở là "nặng" ở phía sau, từ tố láy "nằng" ở phía trước, thanh điệu thuộc nhóm thấp. Đây đúng là một từ láy. + Lấm tấm: từ tố cơ sở là "tấm" ở sau, từ tố "lấm" ở trước, vần cả hai từ tố giống nhau, thanh điệu thuộc nhóm cao.
đây là một từ láy.3 Phân loại từ láy Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ. Cần chú ý đến tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng các tiêu chí đó.1 Số lần tác động của phương thức láy Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết. Ví dụ: Gọn → gọn gàng đẹp → đẹp đẽ hay → hay ho 23 → hay hớm → hay hay. Tiếp đó phương thức láy có thể tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi để cho ta các từ láy bốn âm tiết.
Phương thức láy 1 Phương thức láy 2 Khểnh - Khấp khểnh → Khấp kha khấp khểnh nham - nham nhở → nham nham nhở nhở - lam nham → lam nham lở nhở Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào hình vị một âm tiết cho ta một từ láy ba âm tiết. Phương thức láy: Sạch → sạch sành sanh tóe → tóe tòe loe dưng → dửng dừng dưng Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một đơn vị hai âm tiết cho các từ láy tư. Nhưng các từ láy tư này khác các từ láy tư chân chính nói trên ở chỗ nó chỉ chịu tác động láy có một lần như: Phương thức láy: quần áo → quần quần áo áo từng lớp → từng từng lớp lớp cười nói → cười cười nói nói. Để cho đơn giản, chúng ta sẽ không bàn tiếp các từ láy tư và láy ba nữa.2 Phân chia từ láy đôi dựa vào cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở.
24 Nếu toàn bộ âm tiết được giữ nguyên thì ta có từ láy toàn bộ. xanh → xanh xanh đỏ → đo đỏ tím → tím tím Nếu bộ phận âm tiết được giữ lại thì ta có từ láy bộ phận. Từ láy bộ phận có thể là từ láy âm tức là láy mà phụ âm đầu giữ lại, còn vần thì khác: đẹp → đẹp đẽ xinh → xinh xắn Từ láy bộ phận có thể là láy vần, nếu vần được giữ lại, còn phụ âm đầu thì khác: lúng → lúng túng (vần ung) chỏng → lỏng chỏng (vần ong) rối → bối rối (vần ôi) 1.3 Sự thay đổi trật tự trước sau của hình vị cơ sở so với hình vị láy Đến đây, tiêu chí "cái được giữ lại" đã hết tác dụng, vì trong các từ láy đôi, trừ phụ âm đầu và vần thì không còn cái gì được giữ lại nữa. Chúng ta chuyển sang tiêu chí trật tự trước sau của hình vị cơ sở so với hình vị láy kết hợp với tiêu chí sự khác nhau của cái bị thay đổi.
Ở từ láy âm, cái bị thay đổi là vần của hình vị cơ sở, vần của hình vị cơ sở được chuyển sang vần của hình vị láy giống nhau thành một kiểu nhỏ, ta gọi là kiểu láy tận cùng, có nghĩa là đến đó không thể chia thành các kiểu nhỏ hơn. Ở từ láy vần, cái bị thay đổi là phụ âm đầu và kiểu tận cùng sẽ là các từ láy có phụ âm đầu của hình vị láy giống nhau.1 Từ láy toàn bộ - Láy toàn bộ thanh điệu giữ nguyên, phụ âm cuối giữ nguyên: 25 xanh → xanh xanh xương →xương xương đêm → đêm đêm - Láy toàn bộ, thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, phụ âm cuối biến đổi theo nguyên tắc: -p → -m -t → -n -k (ch)→ -ng (-nh) như đẹp → đèm đẹp tốt → tôn tốt ác → ang ác ách → anh ách. Trong các từ láy toàn bộ nói trên hình vị láy ở trước và có thanh bằng (thanh ngang hoặc thanh huyền). Các từ láy toàn bộ sau đây có hình vị láy ở trước, song có thanh trắc so với thanh bằng của hình vị cơ sở: dưng → dửng dưng con → cỏn con 1.2 Từ láy âm Có hai kiểu từ láy âm lớn là từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước và từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau.
- Các từ láy âm hình vị cơ sở ở trước gồm có nhiều kiểu nhỏ (căn cứ vào vần của hình vị láy) hơn các từ láy âm có hình vị cở sở ở sau. Sau đây là các vần thường gặp nhất của hình vị từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước: + a (vội vã), ac (phờ phạc), ai (dễ dãi), ao (gượng gạo), ang (gọn gàng), ap (mập 26 mạp), at (cháo chát), ay (múa may). - Các từ láy âm hình vị cơ sở ở sau thường có vần của hình vị láy như sau: + ấc (lấc láo), âm (tấm tức), ân (vẩn vơ).3 Từ láy vần Trong các từ láy vần, những từ có hình vị cơ sở ở sau có số lượng lớn. Trong các từ này, phụ âm đầu của hình vị láy thường đi đôi với phụ âm đầu của hình vị cơ sở 27 thành từng cặp như sau: l → b (lềnh bềnh) d (lờ đờ) d (lò dò) ch (lanh chanh) kh (lừng khừng) ng (lờ ngờ) k (luẩn quẩn) h (leo heo) ph (lờ phờ) r (líu ríu) x (lệt xệt) t (lúng túng) m (lớ mờ) v (lướng vướng) b → nh (bắng nhắng) kh (băn khoăn) r (bối rối) ng (bỡ ngỡ) l (lông bông) x (bờm xờm) h → nh (càu nhàu) r (củ rủ) ch → r (chộn rộn) v (chờn vờn) l (cheo leo) t → m (táy máy) b (tất bật) ng (tồng ngồng) h (tô hô) nh (tẹp nhẹp) m (tủn mủn) th → l (lao tháo x → r (xớ rớ) h → t (hấp táp) Những từ láy vần hình vị cơ sở ờ trước co rất ít như co ro, xo ro, thiêng liêng.4 Những điều cần chú ý về từ láy 1.1 Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ láy đôi theo hai nhóm thanh Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ láy đôi theo hai nhóm thanh trong nhiều trường hợp là căn cứ để xác định từ láy đôi.
Có những từ hai âm tiết, phụ âm đầu và vần của âm tiết đó tuy vẫn đúng theo quy tắc láy, nhưng thanh điệu của chúng không phù hợp với quy tắc nhóm thanh thì chưa hẳn đã là láy đôi chân chính. Ví dụ: "mơ màng", "mơ mộng", "lanh lợi", "êm đềm", "âu sầu", "ủ rũ",. có thể đó là những từ ghép mà cả hai hình vị đều có nghĩa ("mơ", "màng"; "mơ", "mộng"; "âu", "sầu";.hoặc là từ gốc Hán ("lanh", "lợi"). Dĩ nhiên cũng có những từ láy chân chính không theo đúng quy tắc nhóm thanh, song những trường hợp này đều có thể giải thích được ("thâm thẩm", "se sẽ" thay cho "sè sẽ".2 Quy tắc láy đôi về âm thanh và thanh điệu song cả hai âm tiết đều có nghĩa Lại có một số từ hai âm tiết rất phù hợp với quy tắc láy đôi về âm thanh và thanh điệu song cả hai âm tiết đều có nghĩa (hoặc hiện nay hoặc trước kia đã có nghĩa) như "đền đài", “gậy gộc", "mưa móc", "thuốc thang", "chùa chiền", "hỏi han", "ngặt nghéo", "vung vẩy ", "nhảy nhót".
Sau này chúng ta sẽ thấy cả về nghĩa, những từ này vừa giống về ý nghĩa của một kiểu từ ghép và vừa giống nghĩa của một từ láy. Đây là trường hợp trung gian giữa từ ghép và từ láy. Để cho tiện xếp loại, có thể xem những từ là những từ ghép (như đền đài, gậy gộc, mưa móc, thuốc thang, ngặt nghèo, vung vẩy, nhảy nhót.) còn những từ ngữ có một hình vị hiện đã mất nghĩa, không dùng độc lập và không còn năng lực cấu tạo nữa (như chùa chiềng, hỏi han.3 Những từ hai âm tiết phù hợp với quy tắc láy cả về âm và về thanh, song cả hai âm tiết đều không có nghĩa Cuối cùng có những từ hai âm tiết phù hợp với quy tắc láy cả về âm và về thanh, song cả hai âm tiết đều không có nghĩa. Trường hợp này lại phân làm ba trường hợp nhỏ: - Trường hợp thứ nhất: những từ có hình thức láy, một âm tiết của nó tách riêng 29 không thể dùng độc lập mà vẫn mang ý nghĩa của cả từ như ba ba, cào cào, châu chấu, kền kền, thuồng luồng, (bệnh) thồm lồm, đu đủ, chôm chôm, thằn lằn, cà cưỡng.
- Trường hợp thứ hai: những từ có hình thức láy mà một âm tiết riêng có thể đứng một mình với một ý nghĩa của cả từ như se sẻ, bươm bướm, chuồn chuồn (có thể nói con sẻ, con bướm, con chuồn.) - Trường hợp thứ ba: những trường hợp như hổn hển, lẩm ẩm, đủng đỉnh, ngậm ngùi, hí hửng. Đây là những trường hợp trung gian giữa từ láy và từ đơn đa âm. Để cho tiện xếp loại, có thể xem những trường hợp nhỏ thứ nhất và thứ hai là các từ đơn bởi vì xác về ý nghĩa chúng gọi tên thông thường như các tên khác. Các trường hợp thứ ba có thể xem là từ láy mà hình vị cơ sở đã mất nghĩa, bởi vì, ngoài chức năng gọi tên, chúng còn có tính chất miêu tả biểu cảm như các từ láy.
Có thể xếp cả những từ tượng thanh như róc rách, ù ù, ào ào.