MỞ ĐẦU Viện Khoa học hình sự là một đơn vị đầu ngành của lực lƣợng kỹ thuật hình sự, một trung tâm khoa học của ngành Công an Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện Khoa học hình sự là công tác giám định phục vụ tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và các yêu cầu cá nhân, trong đó nổi bật là lĩnh vực giám định ADN. Từ tháng 4 năm 1999, Viện Khoa học hình sự đã triển khai lĩnh vực giám định ADN với toàn bộ quy trình đƣợc chuyển giao từ Viện Khoa học hình sự bang Victoria - Úc, sử dụng hệ NinePlex II (gồm 09 locus). Năm 2006 Viện Khoa học hình sự đã đƣa vào ứng dụng hệ Identifiler (gồm 15 locus) trong giám định ADN.
Với bộ kit này, công tác giám định đạt hiệu quả cao hơn so với bộ kit 9 locus NinePlex II. Trong giám định ADN hình sự đòi hỏi bắt buộc phải tính xác suất một ngƣời ngẫu nhiên trong quần thể có cấu trúc di truyền trùng lặp với ADN của các mẫu vật giám định. Để tính toán đƣợc xác suất này thì phải có dữ liệu tần suất của từng alen [7]. Theo lý thuyết di truyền học, mỗi quần thể ngƣời (dân tộc) khác nhau có những đặc điểm di truyền đặc trƣng, thể hiện bằng sự phân bố tần suất alen trong mỗi quần thể là khác nhau và không thể áp dụng cơ sở dữ liệu của quần thể này cho một quần thể khác.
Do đó, bắt buộc phải tiến hành khảo sát tần suất các alen của các locus dùng trong giám định ADN hình sự đối với mỗi dân tộc để đảm bảo tính khoa học, chính xác và khách quan trong kết luận giám định. Việc khảo sát tần suất các alen của các locus đang sử dụng trong giám định ADN đối với các dân tộc trên toàn lãnh thổ Việt Nam là một việc làm mang tính cấp bách. Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ lớn nhất (gần 90%) [1] và đã có đề tài khoa học cấp Bộ khảo sát tần suất alen gen ngƣời Việt 5 (Kinh) theo hệ Identifiler [12]. Còn lại là các dân tộc thiểu số, do điều kiện về cơ sở vật chất cũng nhƣ con ngƣời chƣa đáp ứng đƣợc nên chƣa thể tiến hành khảo sát tần suất alen cho tất cả các dân tộc.
Trong nhóm các dân tộc thiểu số đông dân nhất (Tày, Thái, Mƣờng, Khmer, Hoa, Nùng, Hmông, ngƣời Dao, Giarai, Êđê, Chăm, Sán Dìu, ngƣời Raglay) có một số dân tộc cƣ trú chủ yếu tại các tỉnh biên giới, là các điểm nóng về An ninh và Trật tự an toàn xã hội. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, ngƣời Khmer ở Việt Nam có dân số 1.640 ngƣời, có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố. Ngƣời Khmer cƣ trú tập trung tại các tỉnh: Sóc Trăng (397.014 ngƣời, chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh và 31,5 % tổng số ngƣời Khmer tại Việt Nam), Trà Vinh (317.203 ngƣời, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh và 25,2 % tổng số ngƣời Khmer tại Việt Nam), Kiên Giang (210.899 ngƣời, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 16,7 % tổng số ngƣời Khmer tại Việt Nam), An Giang (90.271 ngƣời), Bạc Liêu (70.667 ngƣời), Cà Mau (29.845 ngƣời), thành phố Hồ Chí Minh (24.268 ngƣời), Vĩnh Long (21.820 ngƣời), Cần Thơ (21.414 ngƣời), Hậu Giang (21.169 ngƣời), Bình Phƣớc (15.578 ngƣời), Bình Dƣơng (15. Tết: Ngƣời Khơ Me có 2 lễ lớn trong năm, Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dƣơng lịch và Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Lịch sử: Ngƣời Khơ Me từ Tây Khƣơng xuống Trung Lào vào khoảng giữa thiên kỷ 1 trƣớc Tây lịch, cùng lúc với ngƣời Việt tộc từ Giang Nam di cƣ xuống Bắc bộ (2), từ Tây Khƣơng (hay Tây Khang) đi Trung Lào không xa lắm, chỉ vƣợt qua Vân Nam là đến, lại có sẵn một “đƣờng” rất tiện là con sông Cửu Long. Đến trƣớc thế kỉ XII ngƣời Khơ Me và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. 6 Văn hóa: Ngƣời Khơ Me đã có những cống hiến to lớn vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam. Về văn học dân gian, ngƣời Khơ Me là chủ nhân di sản của một nền văn hóa phong phú gồm nhiều thể loại: dân ca, truyển cổ, những câu châm ngôn, tục ngữ thƣờng nhƣ một lời khuyên răn, một kinh nghiệm sống.
Gắn liền với những sinh hoạt khác nhau, dân ca Khơ Me cũng có nhiều loại: hát ru con, hát trong lao động… những bài hát không chỉ phản ánh không kinh nghiệm nông nghiệp mà còn phản ánh đời sống xã hội nhiều tình cảm của ngƣời Khơ Me. Hoạt động sản xuất: Bên cạnh việc trồng lúa nƣớc là ngành sản xuất chủ yếu, nông dân Khơ Me còn trồng hoa mầu trên đất rẫy. Có hai loại đất rẫy: rẫy chuyên dùng và rẫy vốn là ruộng ven làng. Giữa hai vụ mùa lớn, ngƣời dân Khơ Me canh tác thêm một vụ hoa màu phụ ngắn ngày.
Trên đất rẫy, phổ biến các loại đậu, khoai, ngô, rau, mía, hành, ngò… Có nhiều địa phƣơng chuyên trồng các đặc sản nhƣ dƣa hấu, hành đỏ, nhãn, trầu vàng, xoài… Ngoài công việc chăn nuôi, ngƣời Khơ Me ở vùng ven sông rạch hay biển cũng sử dụng các kỹ thuật đánh bắt cá nƣớc ngọc và nƣớc mặn. Rất ít ngƣời Khơ Me sống chuyên bằng chài lƣới trên biển, tuy cũng có một số gia đình chung vốn vào việc mua thuyền, mua lƣới đánh cá ven biển. Nhƣ vậy, ngƣời Khmer tuy là dân tộc thiểu số nhƣng phân bố rộng rãi khắp các tỉnh thành và tập trung chủ yếu theo tuyến biên giới phía Tây Nam Bộ [1]. Đây là những khu vực có thời tiết khí hậu khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn và lại là địa bàn nhạy cảm, thƣờng xuyên phải đấu tranh với những âm mƣu thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm (tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm ma túy, buôn lậu, buôn bán phụ nữ trẻ em, giết ngƣời, hiếp dâm, vận chuyển, buôn bán tiền giả, chất nổ, chất cháy.
Giám định ADN là một công cụ đắc lực phục vụ cho công tác điều tra, xét xử nói chung và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, giữ vững an 7 ninh trật tự xã hội khu vực phía Tây Nam Bộ nói riêng. Hµng n¨m sè lƣợng c¸c vô ¸n h×nh sù nghiªm träng liªn quan ®Õn ngƣời d©n téc Khmer vµ ®ƣợc trƣng cÇu gi¸m ®Þnh ADN t¹i ViÖn Khoa häc h×nh sù cã xu hƣớng gia t¨ng. Cô thÓ n¨m 2004 cã 10 vô, n¨m 2005 cã 11 vô, n¨m 2006 cã 7 vô, n¨m 2007 cã 9 vô, n¨m 2008 cã 16 vô, n¨m 2009 cã 21 vô vµ n¨m 2010 cã 18 vô. Tuy nhiªn, ë ViÖt Nam cho ®Õn nay chƣa cã mét nghiªn cøu hoµn chØnh nµo ®ƣợc c«ng bè vÒ kh¶o s¸t sù ph©n bè c¸c alen cña 15 locus gen hÖ Identifiler ®èi víi quÇn thÓ ngƣời d©n téc Khmer.
Vì vậy, việc tiến hành triển khai đề tài nghiên cứu: “Khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu tần suất các alen của 15 locus gen hệ Identifiler từ quần thể người dân tộc Khmer ứng dụng trong giám định ADN” là một yêu cầu cấp thiết. §Ò tµi nµy đƣợc hoµn thµnh sÏ ®¸p øng yªu cÇu cÊp thiÕt cña gi¸m ®Þnh gen vµ ®ãng gãp tài liÖu vµo hÖ thèng gen h×nh sù quèc tÕ. KÕt qu¶ cña ®Ò tµi lµ c¬ së ph¸p lý v÷ng ch¾c ®Ó ph©n tÝch, ®¸nh gi¸ vµ kÕt luËn gi¸m ®Þnh ®èi víi nh÷ng vô ¸n liªn quan ®Õn ngƣời thuéc d©n téc Khmer. Mục tiêu của đề tài Khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu tần suất các alen của 15 locus gen (ADN) hệ Identifiler từ dân tộc Khmer phục vụ cho công tác giám định ADN ở các vụ án liên quan đến ngƣời dân tộc Khmer.
Trên cơ sở đó, tính tần suất xuất hiện của mỗi alen trong từng locus của dân tộc Khmer, làm cơ sở khoa học để phân tích, đánh giá và rút ra kết luận giám định truy nguyên huyết thống hoặc truy nguyên cá thể. Đồng thời đóng góp vào nhiệm vụ giám định ADN cho các lực lƣợng thực thi pháp luật trên toàn cầu, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa giữa cảnh sát các nƣớc thông qua Interpol. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giám định gen (ADN) Giám định gen là nghiên cứu, phân tích ADN từ các dấu vết, vật chứng có nguồn gốc cơ thể bằng kỹ thuật gen.
Thông qua phân tích ADN để xác định truy nguyên, nhận dạng cá thể trong các vụ án hình sự, tìm tung tích nạn nhân, ngƣời mất tích trong các vụ cháy, vụ tai nạn, thảm họa… hoặc xác định quan hệ huyết thống. Sự ra đời của sinh học phân tử Theo F. Jacob thì sinh học hiện đại có mục đích là giải thích các đặc tính của cơ thể sống thông qua nghiên cứu cấu trúc và chức năng của các phân tử vật chất thành phần. Sinh học phân tử là một ngành sinh học hiện đại quan tâm đến việc giải thích những hiện tƣợng và quy luật sinh học ở mức phân tử.
Các nhà sinh học phân tử thƣờng sử dụng những kỹ thuật hóa sinh để nghiên cứu những vấn đề di truyền. Lịch sử ra đời và phát triển của sinh học phân tử chính là sự hội tụ và phát triển của nhiều ngành khoa học khác nhau nhƣ: Sinh học tế bào, Di truyền học, Hóa sinh học và Vi sinh vật học. Ngành di truyền học ra đời vào thế kỷ thứ XX: Đầu tiên những công trình của Mendel (1822-1884) đƣợc nghiên cứu trở lại, đến năm 1900, thuyết di truyền do nhiễm sắc thể ra đời. Vào đầu thế kỷ XX ngƣời ta khám phá ra ADN nhƣ một chất sinh hóa mang thông tin di truyền và làm sáng tỏ cấu trúc ADN.
Những năm 70 ngành sinh hóa phân tử bùng nổ. Sự xuất hiện ngành di truyền học: Ngành di truyền học hiện đại này có từ các công trình của Mendel, ngƣời đầu tiên thực hiện các lý thuyết về di truyền. 9 Ông in ra các kết quả năm 1866, nhƣng lúc bấy giờ ít đƣợc chú ý. Cho đến năm 1900 thì ngƣời ta mới nghiên cúu và khám phá trở lại.
Sự phát triển của thuyết nhiễm sắc thể về tính di truyền. Các gene nằm trong nhiễm sắc thể và theo Sturtevant thì các gene có thể có một trật tự trong nhiễm sắc thể, và thành lập bản đồ gene đầu tiên. Cũng trong phòng thí nghiệm của Morgan mà các thủ tục về thí nghiệm biến đổi đƣợc Muller phát triển.