ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn thái dương hàm (RLTDH) là một trong những bệnh lý phổ biến của vùng đầu mặt cổ. Trên thế giới, có khoảng 40-60% dân số có ít nhất một dấu hiệu của RLTDH [46]. Tại Việt Nam, tỉ lệ người có ít nhất một triệu chứng hay dấu hiệu của RLTDH là trên 64% [4]. RLTDH bao gồm các rối loạn liên quan đến cơ hàm, khớp thái dương hàm (TDH) và các cấu trúc liên quan khác.
Trong đó, tỉ lệ các trường hợp RLTDH có liên quan đến các rối loạn ở khớp TDH là trên 70% [48]. Hiện nay, theo quan sát của chúng tôi, tại Việt Nam, các nhà lâm sàng xác định tình trạng của khớp TDH chủ yếu dựa vào bệnh sử, khám lâm sàng (sờ nắn vùng khớp, nghe tiếng kêu khớp, đánh giá các vận động hàm,.) và các cận lâm sàng như phim X quang, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón (CBCT), chụp cộng hưởng từ (MRI),. Các phương pháp như sờ - nghe tiếng kêu khớp và siêu âm là những phương pháp không xâm lấn, dễ thực hiện, tuy nhiên kết quả phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ của nhà lâm sàng. Mức độ đồng thuận giữa các nhà lâm sàng trong việc xác định có hay không có tiếng kêu khớp, tiếng kêu khớp là tiếng lụp cụp, hay tiếng lạo xạo bằng phương pháp sờ hoặc sử dụng tai nghe y khoa chỉ đạt ở mức trung bình (kappa < 0.
Phim X quang, CBCT là những phương pháp chẩn đoán hình ảnh thường được dùng để khảo sát diện khớp xương lồi cầu, hõm khớp, lồi khớp. Tuy nhiên, bệnh nhân sẽ phải phơi nhiễm với phóng xạ. MRI được coi là chuẩn vàng trong chẩn đoán các rối loạn sắp xếp đĩa khớp, các rối loạn liên quan đến mô mềm tại khớp. Đây là một phương pháp không xâm lấn, tuy nhiên bệnh nhân rất khó tiếp cận vì chi phí khá cao và rất ít cơ sở y tế có thể trang bị máy MRI vì những đòi hỏi nghiêm ngặt về cơ sở hạ tầng.
Việc lựa chọn chỉ định chụp MRI hay CBCT cũng cần được cân nhắc vì MRI có giá trị cao khi khảo sát mô mềm, trong khi đó CBCT lại có ưu thế khi khảo sát mô cứng. 2 Vào khoảng năm 1990, phương pháp phân tích rung động khớp TDH (Joint vibration analysis –JVA) bằng hệ thống BioJVA lần đầu tiên được giới thiệu như một công cụ hỗ trợ sàng lọc các bệnh lý rối loạn nội khớp. Phương pháp này sử dụng cảm biến đặt lên vùng da tương ứng vị trí khớp TDH và kết nối với hệ thống máy tính để ghi nhận và phân tích các rung động phát ra từ khớp TDH khi hàm dưới thực hiện vận động, sau đó thể hiện các rung động này dưới dạng hình ảnh sóng và các thông số đặc trưng. Các nhà lâm sàng đối chiếu các thông số này lên sơ đồ chẩn đoán JVA Flowchart sẽ có được chẩn đoán sơ bộ về tình trạng và chức năng khớp TDH.
Ưu điểm của phương pháp này là kĩ thuật thực hiện đơn giản và nhanh chóng, cho kết quả mang tính khách quan hơn phương pháp sờ và nghe tiếng kêu khớp. Hơn nữa, đây là một phương pháp không xâm lấn, bệnh nhân không phải phơi nhiễm với phóng xạ như trong kỹ thuật chụp X quang hay CBCT và chi phí bệnh nhân phải trả thấp hơn so với MRI. Mặc dù JVA không đưa ra được một chẩn đoán xác định về bệnh lý của khớp TDH, JVA có tiềm năng là một công cụ sàng lọc các bệnh lý khớp TDH một cách hiệu quả, bổ sung thông tin cho việc khám lâm sàng và giúp các nhà lâm sàng lựa chọn các chỉ định cận lâm sàng tiếp theo phù hợp. Hiện nay, trên thế giới, phương pháp phân tích rung động khớp TDH đã được ứng dụng trong hỗ trợ chẩn đoán các bệnh lý rối loạn nội khớp và trong các nghiên cứu về khớp TDH [9], [19], [37], [67].
Ở Việt Nam, phương pháp phân tích rung động khớp là một phương pháp mới và tính đến hiện nay chưa có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp này trong khám và chẩn đoán các bệnh lý khớp TDH. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về cách sử dụng cũng như các tính năng của hệ thống phân tích rung động khớp, đồng thời cũng nhằm xác định các đặc điểm của rung động khớp TDH trên người không có triệu chứng RLTDH, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:. 3 “Khảo sát rung động khớp thái dương hàm bằng hệ thống BioJVA trên người trẻ trưởng thành không có triệu chứng rối loạn thái dương hàm”. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Khảo sát các đặc điểm của rung động khớp thái dương hàm bằng hệ thống BioJVA trên người trẻ trưởng thành không có triệu chứng rối loạn thái dương hàm.
Mục tiêu chuyên biệt: 1. Xác định giá trị trung bình của các thông số rung động khớp TDH trên người trẻ trưởng thành không có các triệu chứng RLTDH. So sánh giá trị trung bình của các thông số rung động khớp TDH bên trái và bên phải 3. So sánh giá trị trung bình của các thông số rung động khớp TDH giữa nam và nữ.
Khảo sát thời điểm xuất hiện các rung động khớp TDH trong chu kỳ há ngậm trên người trẻ trưởng thành không có triệu chứng RLTDH. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khớp thái dƣơng hàm 1.1 Cấu trúc giải phẫu [2] Khớp TDH (hình 1.1) là một khớp động của cơ thể, với cấu tạo gồm các diện khớp xương là lồi cầu xương hàm dưới và lồi khớp – hõm khớp xương thái dương. Đệm giữa hai diện khớp xương này là đĩa khớp. Đĩa khớp là một cấu trúc sụn sợi hình oval, dạng thấu kính lõm 2 mặt, mỏng ở trung tâm và dày ở ngoại vi.
Phần trước và sau của đĩa khớp dày lên gọi là băng trước đĩa và băng sau đĩa. Băng trước đĩa có các sợi collagen hòa vào cùng với bao khớp. Băng sau đĩa được dính với một mô liên kết lỏng lẻo, giàu mạch máu gọi là mô sau đĩa. Mô sau đĩa được giới hạn bởi phía trên là lá sau đĩa trên, nối băng sau đĩa với khe nhĩ trai của xương thái dương, và giới hạn phía dưới là lá sau đĩa dưới, nối băng sau đĩa vào bờ dưới diện khớp sau của lồi cầu.
Lá sau đĩa trên có thành phần chủ yếu là các sợi đàn hồi, còn lá sau đĩa dưới chủ yếu là các sợi collagen không đàn hồi. Khớp TDH được bao bọc bởi bao khớp, là một cấu trúc hình phễu, rộng ở phía nền sọ và thuôn lại ở phía cổ lồi cầu. Các sợi của bao khớp hòa cùng với các sợi của băng trước đĩa, băng sau đĩa và trên toàn bộ chu vi của đĩa khớp, từ đó hình thành 2 buồng khớp: buồng khớp trên và buồng khớp dưới. Lót ở mặt trong bao khớp là màng hoạt dịch sản xuất ra chất hoạt dịch để bôi trơn cho các chuyển động của khớp TDH.1 Khớp TDH bình thường [46] 1.2 Vận động chức năng [2] Đối với khớp TDH bình thường, ở vị trí đóng hàm, đĩa khớp ở phía trên trước đầu lồi cầu, chỗ nối băng sau đĩa với mô sau đĩa nằm ở vị trí 12h so với gờ cao nhất của đầu lồi cầu.
Khi hàm dưới thực hiện vận động, trong khớp TDH sẽ xảy ra 2 chuyển động chính, đó là: chuyển động xoay giữa đĩa khớp và đầu lồi cầu; và chuyển động trượt của phức hợp lồi cầu - đĩa khớp trên sườn sau lồi khớp. Khi há, cơ chân bướm ngoài bó dưới co, kéo lồi cầu ra trước và xuống dưới theo sườn sau của lồi khớp, cơ chân bướm ngoài bó trên dãn. Lúc này các sợi đàn hồi của lá sau đĩa trên bị kéo căng, tạo một lực đàn hồi kéo đĩa khớp xoay về phía sau tới đỉnh của lồi cầu. Ở vị trí há tối đa, lồi cầu ở vị trí đỉnh của lồi khớp.
Phần mỏng trung tâm đĩa khớp cũng được xoay đến đỉnh của lồi cầu, phần mỏng trung tâm đĩa nằm chêm giữa 2 diện khớp xương lồi cầu và lồi khớp. Cơ chân bướm ngoài bó trên dãn trong suốt pha há. Khi pha đóng hàm bắt đầu, cơ chân bướm ngoài bó dưới dãn ra, các cơ nâng hàm bắt đầu co, kéo lồi cầu di chuyển lên trên và ra sau. Đồng thời cơ chân bướm ngoài bó trên co, xoay đĩa khớp về phía trước, giúp kiểm soát vị trí của đĩa khớp, sao cho phần trung tâm đĩa khớp luôn chêm ở giữa diện khớp lồi cầu và diện khớp xương thái dương.
6 Ở khớp TDH bình thường, với sự hoạt động hài hòa của các cơ nhai, sự toàn vẹn của các cấu trúc dây chằng, sự sắp xếp đúng của tương quan lồi cầu – đĩa khớp – lồi khớp, và sự bôi trơn của chất hoạt dịch thì các chuyển động trượt, xoay của lồi cầu và đĩa khớp xảy ra một cách trơn tru, tạo ra rất ít rung động, và nếu có thì những rung động này là rất nhỏ. Đối với khớp TDH có bệnh lý rối loạn nội khớp, lúc này có sự thay đổi về cấu trúc (như dãn dây chằng, thủng mô sau đĩa), sự thay đổi về tương quan về vị trí giữa đĩa khớp- lồi cầu (như dời chỗ đĩa ra trước bán phần/toàn phần, có hồi phục / không hồi phục), sự thiếu hụt chất hoạt dịch,… sẽ tạo ra nhiều ma sát trong những chuyển động của khớp TDH, từ đó sinh ra nhiều rung động đáng kể. Rối loạn thái dƣơng hàm 1. Định nghĩa Theo Viện hàn lâm về đau miệng mặt Hoa Kỳ (American Academy of Orofacial Pain – AAOP), rối loạn thái dương hàm là tập hợp các rối loạn liên quan đến khớp TDH, các cơ hàm và các cấu trúc liên quan khác.
Dịch tễ Rối loạn thái dương hàm là một bệnh lí phổ biến vùng đầu mặt cổ. Trên thế giới, tỉ lệ RLTDH vào khoảng 40-60% theo Okeson (2019) [46]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Đoàn Hồng Phượng năm 2005 [4] về tình trạng RLTDH ở người lớn (18-54 tuổi) tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ này là 64,87%. Tuy nhiên, trong đó chỉ có khoảng 35,26% bệnh nhân nhận biết mình có triệu chứng RLTDH.
Tỉ lệ bệnh nhân được chẩn đoán RLTDH qua khám lâm sàng là 56,15%. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh (2011) [1], tỉ lệ trẻ em 14 tuổi có tình trạng RLTDH là 32,3%, trong đó 24,5% trẻ có ít nhất một triệu chứng và 9,9% trẻ có ít nhất một dấu hiệu của RLTDH. Theo bài tổng quan của Joseph Ryan. 7 [53] cho thấy tình trạng RLTDH thường phổ biến trên người ở độ tuổi 20-40 hơn so với những lứa tuổi khác.
Triệu chứng và dấu hiệu Các triệu chứng và dấu hiệu chính của RLTDH là đau và loạn năng.