Nhân vật Hoàng đế Lê Thánh Tông: Khảo sát văn hóa qua lịch sử và văn học

Luận văn thạc sĩ văn học phân tích ussh nhân vật hoàng đế như là một nhân vật văn hóa khảo sát trường hợp lê thánh tông qua lịch sử và, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển

Chuyên ngành

Việt Nam học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2011

142
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH ĐẾ QUYỀN

1.1. Bạo lực

2. CHƯƠNG 2: HOÀNG ĐẾ VÀ NHỮNG QUYỀN LỰC, PHẨM CHẤT CẦN CÓ CỦA HOÀNG ĐẾ

3. CHƯƠNG 3: CÁC HÌNH THỨC BẢO VỆ ĐẾ QUYỀN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân vật Hoàng đế Lê Thánh Tông trong văn hóa Việt Nam

Hoàng đế Lê Thánh Tông (1442-1497) là một trong những nhân vật lịch sử quan trọng nhất trong văn hóa Việt Nam. Ông không chỉ là một vị vua tài ba mà còn là một nhà văn hóa lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và xã hội Việt Nam trong thế kỷ XV. Thời kỳ trị vì của ông được coi là giai đoạn cực thịnh của triều đại Lê Sơ, với nhiều cải cách quan trọng trong chính trị, kinh tế và văn hóa. Lê Thánh Tông đã để lại nhiều di sản văn hóa quý giá, từ thơ ca đến các tác phẩm văn học, thể hiện tư tưởng và tình cảm của một vị vua yêu nước.

1.1. Lê Thánh Tông và vai trò của ông trong lịch sử Việt Nam

Lê Thánh Tông là một trong những vị hoàng đế nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc củng cố và phát triển đất nước, từ việc xây dựng chính quyền đến việc mở rộng lãnh thổ. Ông cũng là người đầu tiên thực hiện nhiều cải cách trong hệ thống giáo dục và pháp luật, tạo nền tảng cho sự phát triển văn hóa sau này.

1.2. Di sản văn hóa của Lê Thánh Tông

Di sản văn hóa của Lê Thánh Tông rất phong phú, bao gồm nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng. Ông đã sáng tác nhiều bài thơ chữ Hán và chữ Nôm, thể hiện tâm tư và tình cảm của mình đối với đất nước. Những tác phẩm này không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phản ánh tư tưởng Nho giáo và tình yêu quê hương đất nước.

II. Những thách thức trong triều đại Lê Thánh Tông

Trong thời kỳ trị vì của Lê Thánh Tông, đất nước Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài và sự bất ổn nội bộ đã đặt ra nhiều khó khăn cho triều đại. Tuy nhiên, với tài năng và sự quyết đoán, Lê Thánh Tông đã vượt qua những thử thách này, củng cố vững chắc quyền lực của mình và phát triển đất nước.

2.1. Cuộc chiến chống xâm lược và bảo vệ lãnh thổ

Lê Thánh Tông đã phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược từ các thế lực bên ngoài, đặc biệt là từ Chiêm Thành. Ông đã chỉ huy quân đội đánh bại kẻ thù, bảo vệ vững chắc lãnh thổ và giữ gìn độc lập cho đất nước. Những chiến công này không chỉ khẳng định sức mạnh quân sự mà còn nâng cao uy tín của triều đại Lê Sơ.

2.2. Sự bất ổn nội bộ và cách giải quyết

Trong triều đại của Lê Thánh Tông, sự bất ổn nội bộ cũng là một thách thức lớn. Các cuộc nổi dậy và tranh giành quyền lực giữa các thế lực phong kiến đã xảy ra. Tuy nhiên, với tài năng lãnh đạo, Lê Thánh Tông đã khéo léo xử lý các vấn đề này, duy trì sự ổn định và phát triển cho đất nước.

III. Phương pháp cải cách của Lê Thánh Tông trong quản lý nhà nước

Lê Thánh Tông đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng trong quản lý nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền. Ông đã áp dụng nhiều phương pháp mới trong quản lý, từ cải cách hành chính đến cải cách giáo dục, tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước.

3.1. Cải cách hành chính và tổ chức bộ máy nhà nước

Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách hành chính, tổ chức lại bộ máy nhà nước để nâng cao hiệu quả quản lý. Ông đã thiết lập các cơ quan chính quyền mới, phân công rõ ràng nhiệm vụ cho từng bộ phận, giúp cho việc điều hành đất nước trở nên hiệu quả hơn.

3.2. Cải cách giáo dục và phát triển nhân tài

Giáo dục là một trong những lĩnh vực mà Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng. Ông đã cải cách hệ thống giáo dục, mở rộng các trường học và tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài. Những cải cách này đã giúp nâng cao trình độ dân trí và phát hiện nhiều nhân tài cho đất nước.

IV. Ứng dụng thực tiễn của di sản văn hóa Lê Thánh Tông

Di sản văn hóa của Lê Thánh Tông không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ứng dụng thực tiễn trong đời sống hiện đại. Những tư tưởng và giá trị văn hóa mà ông để lại vẫn còn ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam ngày nay, từ giáo dục đến văn hóa nghệ thuật.

4.1. Giá trị văn hóa trong giáo dục hiện đại

Tư tưởng giáo dục của Lê Thánh Tông vẫn còn được áp dụng trong hệ thống giáo dục hiện đại. Những giá trị như tôn trọng tri thức, khuyến khích học tập và phát triển nhân tài được coi là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội.

4.2. Ảnh hưởng đến văn hóa nghệ thuật đương đại

Di sản văn hóa của Lê Thánh Tông cũng ảnh hưởng đến văn hóa nghệ thuật hiện đại. Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật ngày nay vẫn lấy cảm hứng từ các giá trị văn hóa mà ông đã xây dựng, thể hiện tình yêu quê hương và lòng tự hào dân tộc.

V. Kết luận về nhân vật Hoàng đế Lê Thánh Tông

Hoàng đế Lê Thánh Tông là một nhân vật văn hóa lớn trong lịch sử Việt Nam. Ông không chỉ là một vị vua tài ba mà còn là một nhà văn hóa có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và xã hội. Những di sản mà ông để lại vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

5.1. Tầm quan trọng của Lê Thánh Tông trong lịch sử

Lê Thánh Tông không chỉ là một vị vua mà còn là biểu tượng của một thời kỳ phát triển rực rỡ trong lịch sử Việt Nam. Ông đã để lại nhiều bài học quý giá về lãnh đạo và quản lý, giúp cho thế hệ sau có thể học hỏi và phát triển.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về Lê Thánh Tông

Nghiên cứu về Lê Thánh Tông vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác các khía cạnh khác nhau của cuộc đời và sự nghiệp của ông, từ văn hóa đến chính trị, để làm sáng tỏ hơn nữa vai trò của ông trong lịch sử Việt Nam.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh nhân vật hoàng đế như là một nhân vật văn hóa khảo sát trường hợp lê thánh tông qua lịch sử và văn học

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, luận văn Nhân vật hoàng đế như là một nhân vật văn hóa (khảo sát trường hợp Lê Thánh Tông qua lịch sử và văn học) của chúng tôi đƣợc chia thành ba chƣơng với các nội dung: Chƣơng 1: Các con đƣờng hình thành Đế quyền. Chƣơng 2: Hoàng đế và những quyền lực, phẩm chất cần có của Hoàng đế. Chƣơng 3: Các hình thức bảo vệ Đế quyền. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG CON ĐƢỜNG HÌNH THÀNH ĐẾ QUYỀN 1.

Bạo lực Có thể nói, bạo lực (nghĩa rộng hơn: chiến tranh) là con đƣờng đầu tiên và rất phổ biến để giành Đế quyền ở tất cả quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong các cuộc chiến tranh giành quyền lực thời nguyên thủy - những mong vơ vét của cải và nô lệ - ngƣời giành chiến thắng bao giờ cũng là thủ lĩnh mạnh nhất. Tới khi xã hội loài ngƣời phát triển ở bậc cao hơn, có ý thức về chủ quyền - lãnh thổ, vẫn là những cuộc động binh liên miên để thôn tính, sáp nhập các nƣớc bé, khẳng định quyền uy nƣớc lớn. Chớ nên quên cả đất Trung Hoa thời cổ đại từng là một chiến trƣờng có “không gian mênh mông”, “thời gian đằng đẵng” - nơi các nƣớc Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, Tần… đua nhau tranh hùng xƣng bá.

Phải đến năm 221 trƣớc Công nguyên, Tần Doanh Chính (259 TCN - 210 TCN) mới tiêu diệt 6 nƣớc chƣ hầu thời Chiến Quốc - vốn phân tán - thống nhất sơn hà, xƣng Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, lập nên một đế chế hùng mạnh. Tần Doanh Chính lên nối ngôi cha (Trang Tƣơng vƣơng) năm 246 trƣớc Công nguyên, lúc vừa tròn 13 tuổi. Thời Doanh Chính trị vì, nƣớc Tần đã lớn mạnh, không ngừng mở mang bờ cõi, lấn đất của 6 nƣớc chƣ hầu còn lại. Trong các năm từ 230 - 228 trƣớc Công nguyên, nhà Tần lần lƣợt thôn tính nƣớc Hàn và nƣớc Triệu.

Thêm 3 năm nữa (225 trƣớc Công nguyên), nƣớc Ngụy ra hàng Tần. Năm 223 trƣớc Công nguyên, Sở vƣơng bị giết, nƣớc Sở cũng thuộc về Tần sau 700 ngày liên tục can qua. Chỉ hai năm sau nữa, bản đồ “tam quốc” lần thứ nhất chất dứt tồn tại khi Tần vƣơng sai con Vƣơng Tiễn là Vƣơng Bí cầm quân lần lƣợt đánh tan nƣớc Yên (222 trƣớc Công nguyên) và nƣớc Tề láng giềng (221 trƣớc Công nguyên), vốn là “đồng minh” trƣớc đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để chứng tỏ Đế quyền, việc đầu tiên Tần Thủy Hoàng nghĩ đến là bắt hoàng gia vƣơng tộc 6 nƣớc cũ phải dời đến kinh thành Hàm Dƣơng, phát mãi toàn bộ đất đai của họ; đồng thời, mạnh tay thi hành một đƣờng lối cai trị hà khắc theo phái Pháp gia: trọng binh - nông, ức công - thƣơng, ghét đa nguyên về tƣ tƣởng, sẵn sàng “đốt sách chôn nho”… Ở Việt Nam, con đƣờng chiếm lĩnh Đế quyền của nhiều vị hoàng đế cũng không gì khác hơn ngoài hai chữ “bạo lực” - dù tính chất và mức độ nhiều phần khác với chuyện xảy ra bên kia biên giới.

Với Đinh Tiên Hoàng - vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử dân tộc - con đƣờng Đế quyền ông đi tới là một hành trình “dẹp loạn và dựng nƣớc” nhiều gian nan. Sau đám tang của ngƣời anh hùng dân tộc Ngô Quyền (năm 944), ngƣời từng lập nên một Bạch Đằng giang lần thứ nhất, đƣa đất nƣớc ta thoát khỏi đêm trƣờng Bắc thuộc (để hàng mấy thế kỷ sau, sứ thần thám hoa Giang Văn Minh còn không thôi tự hào Đằng giang tự cổ huyết do hồng), non sông Đại Việt đã ngay lập tức trải qua nhiều sự cố: Bình vƣơng Dƣơng Tam Kha tiếm quyền (945 - 950); hai con của Ngô vƣơng cùng nhau trông coi chính sự (từ năm 951). Khi Xƣơng Ngập qua đời (năm 954), rồi Xƣơng Văn chết (năm 965) lúc đánh dẹp hai thôn Đƣờng, Nguyễn ở Thái Bình (bị phục binh), chính quyền trung ƣơng đã dần sụp đổ cùng sự suy yếu của Ngô Xƣơng Xí (con Ngô Xƣơng Ngập). Năm 966, nƣớc nhà xuất hiện 12 sứ quân: 1.

Ngô Xƣơng Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa). Đỗ Cảnh Thạc tự xƣng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai - Hà Nội). Trần Lãm tự xƣng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố (Thái Bình). Kiều Công Hãn tự xƣng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc (Việt Trì - Lâm Thao, Phú Thọ).

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nguyễn Khoan tự xƣng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Vĩnh Tƣờng - Vĩnh Phúc). Ngô Nhật Khánh tự xƣng là Ngô Lãm Công, giữ Đƣờng Lâm (Sơn Tây, Hà Nội). Lý Khuê tự xƣng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh).

Nguyễn Thủ Tiệp tự xƣng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh). Lã Đƣờng tự xƣng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang - Hƣng Yên). Nguyễn Siêu tự xƣng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì - Hà Nội). Kiều Thuận tự xƣng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ).

Phạm Bạch Hổ tự xƣng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hƣng Yên). Về phần Đinh Bộ Lĩnh, ban đầu, ông đã có sự tập hợp dân chúng quanh vùng Hoa Lƣ. Sau đó, ông cùng con trai cả Đinh Liễn (đã lớn) sang theo sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Mối liên minh này càng bền chặt khi Đinh Bộ Lĩnh cƣới thêm Trần Nƣơng (con gái Trần Minh Công) làm vợ.

Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền nhạc phụ, đƣa quân về Hoa Lƣ, chiêu mộ binh lính, chống lại triều đình trung ƣơng đã suy yếu và các sứ quân khác. Trƣớc đây, chúng ta chỉ biết chung chung, đại để rằng: Đinh Bộ Lĩnh lần lƣợt đánh thắng 11 sứ quân khác, lập nên nƣớc Đại Cồ Việt. nhƣng theo sử gia Nguyễn Danh Phiệt, ngƣời anh hùng cờ lau đã liên kết - hàng phục Ngô Nhật Khánh, Ngô Xƣơng Xí, Phạm Bạch Hổ; dẹp loạn Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuận, Lý Khuê; hai sứ quân còn lại (Lã Đƣờng, Nguyễn Khoan) thì tự tan [30, 74]. Dù có tới 5/11 sứ quân chọn cách “ứng xử” liên kết - hàng phục hay tự tan thì hậu thế cũng không thể “bác bỏ” con đƣờng đi tới Đế quyền của Đinh Tiên Hoàng: bạo lực.

Đây là vài lần “tranh hùng” giữa ông với sứ quân Nguyễn Siêu mà Nguyễn Danh Phiệt đã dày công tìm kiếm, tái hiện: “Tháng 11 năm Bính Dần (966), Đinh Bộ Lĩnh khởi binh ở dƣới núi Đọi (Đọi Sơn). Bộ lạc các nơi sợ phục, trong triều ngoài nội theo đến ba ngàn tƣớng sĩ (…) Nguyễn Siêu sai các tƣớng sĩ luyện tập, binh lính đào hào đắp lũy để phòng bị (…) Ngày 6-6, tƣớng nhà Đinh là các bọn Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Cao Sơn và Đinh Thiết đem binh mã đi đƣờng phía Nam kéo đến vây chặt vài vòng. Trong cuộc đọ sức lần đầu này, Đinh Bộ Lĩnh bị mất 4 tƣớng. Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh lại sai Nguyễn Bặc làm tiên phong, Lê Hoàn làm tiếp chiến đem quân đến đánh.

Đinh Bộ lĩnh làm thống lĩnh đem voi chiến và quân sĩ đi đƣờng tắt xã Cẩm Cơ (?) đến đánh phá. Nguyễn Siêu chọn tƣớng tuyển quân, sửa soạn lƣơng ăn, phục chỗ hiểm. Ngày 26-6, có ngƣời là Đỗ Khả tiến từ phƣơng Bắc tới hiến kế nên lui quân về phía Tây Bắc, xin viện quân ở sƣ huynh (tức Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp) đến hiệp lực chống đỡ. Ngày 10 tháng 7, Nguyễn Siêu hợp nhau chia quân làm hai bộ phận.

Một bộ phận ở lại giữ lũy, một bộ phận do chính Nguyễn Siêu đem đi xin cứu viện. Ngày 15 tháng 7, quân quyền của Nguyễn Siêu qua sông sang phía Bắc, đến giữa sông gặp (sóng to) gió lớn, thuyền tƣớng, quân nhu, khí giới bị đắm sạch… Bộ Lĩnh nghe tin, nửa đêm sai 10 võ sĩ ngầm vào phóng lửa đốt hết doanh trại. Quân Nguyễn Siêu tan tác…” [30, 71 - 72]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài con đƣờng hình thành Đế quyền từ bạo lực dẹp nội thù nhƣ trên đây, còn một lối đi khác nữa (vẫn trên cơ sở bạo lực) cho các trang hảo hán thời quân chủ muốn lên ngôi báu trị vì trăm họ là chống xâm lăng.

Sở dĩ Lê Lợi (1385 - 1433) từ địa vị một hào trƣởng đất Lam Sơn lên ngôi Bình Định vƣơng, rồi Hoàng đế ở Đông Kinh ngày 15 tháng 4 năm 1428… đƣợc tôn vinh là Tổ Trung hưng thứ hai của dân tộc ta, bởi ông có 10 năm (1418 - 1427) “nếm mật nằm gai”, kiên trì gây dựng và lãnh đạo phong trào yêu nƣớc, dùng bạo lực đánh đuổi kẻ thù từ bên kia biên giới tràn sang áp đặt ách đô hộ sau thất bại quân sự của họ Hồ năm 1407. “Theo đuổi” con đƣờng bạo lực, không phải không có lúc Lê Lợi gặp những nguy nan: Khi Linh sơn lương hết mấy tuần/ Khi Khôi huyện quân không một đội… nhƣng chính “con đƣờng” ấy đã giúp ông giải phóng dân tộc, đồng thời thiết lập nên ngôi vị Đế quyền dài tới 360 năm cho một dòng họ. Và không thể không nhắc tới ở đây trƣờng hợp dùng bạo lực dẹp cả nội thù và chống xâm lăng để thiết lập nên Đế quyền nhƣ anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ (1753 - 1792) vốn ngƣời họ Hồ huyện Hƣng Nguyên (tỉnh Nghệ An), tổ tiên theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong - đất Tây Sơn (Bình Định) lập nghiệp.

Đƣợc tôi luyện trong một thời kỳ bão táp, lại có chí hƣớng và tài năng lỗi lạc, tên tuổi ông gắn liền với một phong trào nông dân rộng lớn diễn ra sôi nổi trong mấy mƣơi năm cuối cùng của thế kỷ XVIII, trên đất nƣớc ta. Bằng các hoạt động quân sự (bạo lực), Nguyễn Huệ lần lƣợt tiêu diệt chính quyền chúa Nguyễn (1777), đánh bại quân xâm lƣợc Xiêm (1785), xóa sổ quân quan nhà Trịnh (1786) và đập tan 29 vạn quân Thanh đang núp dƣới chiêu bài “phù Lê” mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Trƣớc đó, cuối năm 1788, trên đƣờng tiến quân ra Bắc Hà tiêu diệt kẻ thù, ông đã lên ngôi Hoàng đế để lấy danh nghĩa chính thống. Theo cố giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng, Quang Trung 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nguyễn Huệ là ngƣời ba lần anh hùng: anh hùng áo vải; anh hùng xóa hận sông Gianh - san bằng ranh giới Đàng Trong, Đàng Ngoài in hằn hai thế kỷ và anh hùng trong thắng tích Thăng Long [42, 891].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo sát nhân vật Hoàng đế Lê Thánh Tông trong văn hóa Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và ảnh hưởng của Hoàng đế Lê Thánh Tông trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Tác phẩm không chỉ khám phá những thành tựu nổi bật của ông trong việc xây dựng đất nước mà còn nhấn mạnh những giá trị văn hóa mà ông để lại cho thế hệ sau. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà Lê Thánh Tông đã định hình tư tưởng và văn hóa dân tộc, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về di sản văn hóa phong phú của Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử: Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử, nơi khám phá tư tưởng triết học có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa sẽ giúp bạn hiểu thêm về các nhân vật lịch sử và lễ hội gắn liền với văn hóa dân gian. Cuối cùng, tài liệu Hướng dẫn ôn tập môn cơ sở văn hóa Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về các yếu tố văn hóa đặc trưng của đất nước, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh văn hóa mà Hoàng đế Lê Thánh Tông đã sống và làm việc.