Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm thơ Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người. Ở nhiều dân tộc, trong một thời gian dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ, vì thế, trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc, nói đến thơ là nói đến văn học. Từ điển Thuật ngữ Văn học đã định nghĩa: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.
Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ. Cũng trên cơ sở này mà xuất hiện khái niệm chất thơ để chỉ những sáng tác văn học (bằng văn vần hoặc văn xuôi) giàu xúc cảm, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu. Lý tưởng và khát vọng của đông đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mỗi thời đại. Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ thì nhất định không thể có thơ hay.
Tùy theo yêu cầu nghiên cứu, có thể chia thơ theo những tiêu chí khác nhau. Dựa vào phương thức phản ánh có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình. Dựa vào thể luật có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự do. Xét về mặt gieo vần, có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần.
Ngoài ra, người ta còn phân loại thơ theo nội dung như thơ tình yêu, thơ chính trị, thơ triết lý…” [18, tr. 309] Như vậy, thơ, thơ ca hay thi ca là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm giác âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấu trúc ngữ pháp.
Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác. Thơ có một lịch sử lâu dài.
Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp Aristotle (384-322 TCN). Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như: Sấm bên đông, động bên tây; ăn trông nồi, ngồi trông hướng… vốn là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy. Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí.
Thông qua sự giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng dần. Từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp. Trong các thể loại thơ ở Việt Nam ta có thể kể đến thơ lục bát, song thất lục bát…; các thể loại thơ Đường như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú… rồi đến thơ mới và thơ tự do. Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác hầu như đều có một cấu trúc nhất định.
Chặt chẽ nhất là các thể thơ Đường, trong đó cấu trúc về nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách gieo vần quyết định thể loại của bài thơ. Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho thơ Đường trở thành một loại hình văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp trung lưu trở lên, là những người có giáo dục chính tắc. Hiện nay, thơ trở thành một hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến. Không ai đã từng thông qua một quá trình giáo dục mà không biết một vài câu thơ.
Thơ còn là một hình thức để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của con người. Có thể nói, sự tồn tại của thơ đi song song với sự tồn tại của ngôn ngữ. Còn ngôn ngữ tức là còn thơ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số đặc điểm về hình thức của thơ ca: - Luật thơ: Toàn bộ những qui tắc tổ chức ngôn từ trong sáng tạo thơ như phân dòng, số tiếng, ngắt nhịp, gieo vần, bằng trắc… - Vần: Một phương diện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ.
Trong thơ, vần thể hiện ba chức năng: tách biệt các dòng thơ và tạo sự liên kết giữa chúng: tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ; tạo tâm thế “ chờ đợi vần” đối với các tiếng xuất hiện sau đó ở vị trí nhất định nhằm làm nổi bật ý nghĩa của từ hiệp vần. Trong thơ Việt có hai cách gieo vần: Gieo vần ở giữa câu (Yêu vận hay vần lưng): Chữ cuối của câu trên vần với một chữ nằm bên trong câu dưới như trong thể thơ lục bát, chữ cuối câu có sáu chữ vần với chữ thứ sáu của câu tám chữ sau đó. Ví dụ: Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi Vầng trăng ai xẻ làm đôi? Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường ( Nguyễn Du- Truyện Kiều) Gieo vần ở cuối câu (Cước vận hay vần chân): Các chữ ở cuối câu vần với nhau. Ví dụ: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng ( Xuân Diệu- Đây mùa thu tới) - Điệu: hay còn gọi là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và nhịp điệu ngắt câu.
Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu và từ. Thơ lục bát, ca dao là một thể loại giàu nhạc tính. Âm hưởng của vần: Vần bằng thường gây cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại. Ví dụ: Gió mơn man sợi nắng mành Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương gian hé rạng hình hài Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi.
Vần trắc thường gây cảm giác mạnh mẽ, động đậy. Ví dụ: Gió mơn man sợi nắng mành Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài Dương gian hé rạng hình hài Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi. Tiết tấu của câu: Tiết tấu là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ. dựa vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn vẹn.
Đó là nhịp dài (--), khi ngâm người ta ngừng lại ngân nga lâu một chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy theo hứng, người ta cũng có thể ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia thành từng bộ phận, đó là nhịp ngắn (-). Ví dụ: Dương gian (-) hé rạng (-) hình hài (--) Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai (--) ngái mùi(--) Từ (chữ) trong thơ văn: giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc. Sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi các từ có âm thanh hay, phù hợp với tình cảm người viết muốn truyền đạt, đồng thời tìm tòi những từ mới.
Tính nhạc còn thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âm thanh như rì rào, vi vút, ầm ầm, lanh canh… Chính vì tính chất này, việc làm thơ nhiều khi tương tự như việc làm toán, hay việc bài binh bố trận trong quân sự, mà bài toán hay kẻ thù phải chinh phục chính là cảm xúc của họ, và câu chữ hoặc từ là phép toán hay lực lượng quân đội mà họ có, và người làm thơ phải nhanh chóng tìm ra được phương pháp thể hiện tình cảm của mình dưới một hình thức cô đọng, hợp lý. - Nhịp điệu: Một phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hay luân phiên của các yếu tố có quan hệ tương đồng trong thời gian hoặc quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mĩ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở cấp độ tổ chức văn bản, đơn vị cơ bản của sự lặp lại trong thơ là dòng thơ với độ dài của nó gồm số tiếng và vần như là điểm ngắt của nó. Vì vậy, mỗi thể thơ có một nhịp điệu riêng.
Dòng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ, có độ dài ngắn, cân đối hoặc không cân đối khác nhau… - Tứ thơ: là tình cảm, hình ảnh chủ đạo mà bài thơ muốn truyền đạt. Cấu tứ của bài thơ là cấu trúc và ý tưởng gộp lại. Cách sắp xếp các câu thơ, sự sắp xếp của bài thơ, luật sử dụng trong bài thơ, vần điệu và tính nhạc đều là một phần của cấu tứ. Để có một cấu tứ tốt, người làm thơ thường phải nâng tầm mắt mình cao hơn tình cảm của mình, bao quát toàn bộ bài thơ, làm chủ chính tác phẩm của mình.
- Tính hội họa trong thơ: hay còn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ bản. Người làm thơ, trước khi viết thơ, phải có “cảm hứng". Những hình ảnh thu được trong trí nhớ, có thể bao gồm cả các khung cảnh ở bên ngoài quan sát được, liên kết với nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé. Hình ảnh có thể rõ đến mức người ta gần như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi thấy mùi vị, sắc màu… Người làm thơ sẽ sống trong thế giới ấy trong khi họ đang nghĩ về bài thơ, và họ rời xa cái thế giới mà họ đang sống.
Chính vì hiện tượng này, người ta thường có câu nói đùa, chỉ các nhà thơ là thơ thẩn, nằm mơ hay mơ mộng như người trên cung trăng.