CHƯƠNG I: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TÃNG HUYẾT ÁP 1. Khái niệm về huyết áp và bệnh THA Huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch. Huyết áp mà ta thường nói đỏ là huyết ảp động mạch, là áp lực của máu lên thành động mạch mà ta đo được.
Người ta cũng đo cả huyết áp tĩnh mạch trong một số trường hợp bệnh, điều này chi áp dụng trong bệnh viện khi thật sự cần thiết. Áp lực của máu lên thành mạch do hai yểu tố quyết định: sức đẩy của cơ tim và sự co bóp đản hồi của thành mạch. Khi tim co bóp, áp lực trong động mạch lớn nhất, gọi là huyết áp tâm thu hay huyết áp tối đa. Khi tim nghỉ, các cơ tim giãn ra tạo nên áp lực âm tính trong các buồng tim để hút máu về.
Lúc này áp lực trong động mạch máu xuống thấp nhất, ta đo được huyết áp tâm trương hay huyết áp tối thiếu Theo Tổ chức Y tế thể giới: Một người lớn được gọi là THA khi HA tổi đa- HA tâm thu (HATT) > 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) > 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày[9], THA không phải lúc nào cũng tìm thấy nguyên nhân. Vì vậy người ta phân ra làm 2 loại: THA nguyên phát: Là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, gọi là bệnh THA. Bệnh THA chiếm tới 90 — 95% trong tổng sổ người bị THA. Các nhà khoa học nhận thấy có một sổ yếu tố tác động, phối họp gây bệnh và liên quan đến sự hình thành, tiến triển cùa THA nguyên phát, còn được gọi là yểu tố nguy cơ như: ăn mặn, béo phỉ, uống nhiều rượu/bia, hút thuốc lá/thuốc lào, ít hoạt động thể lực .các yếu tổ trên có thể phối hợp với nhau ngay trên cùng một bệnh nhân.
Càng nhiều yếu tố tác động phổi hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ tai biển do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh càng xấu. THA thử phát: Là các trường hợp THA xảy ra do một bệnh khác, gọi là THA triệu chứng. Trong các trường hợp THA thử phát, người ta tìm thấy nguyên nhân làm cho HA tăng cao, nếu được điều trị bệnh chính thì HA sẽ trở lại bình thường. Một số bệnh dẫn đen hậu quả 5 THA như bệnh: Viêm cầu thận cấp, bệnh thận đa nang, suy thận, bệnh thận do đái tháo đường., một số bệnh nội tiết cũng gây THA như: bệnh u tuyển thượng thận, cường aldosterone tiên phát, hội chứng Cushing’s , hẹp eo đọng mạch chủ, nhiễm độc thai nghén [4] 1.
Thay đoi sinh lý của huyết áp ở người bình thường, HA không phải lúc nào cũng ổn định. HA luôn thay đôi tùy thuộc vào nhiều yếu tổ trong một thời gian nhất định. Đó là sự thay đoi sinh lý của HA: - Theo tuổi: Người già có HA cao hơn so với người trẻ, thường từ 10-20 mmHg. Tuy nhiên ở tuổi quá cao, khi thành động mạch bị lão hóa nhiều, giảm tính đàn hồi, động mạch trở nên cứng hơn thì có the làm cho HA tâm thu tăng cao hơn và gầy nên chứng THA tâm thu đơn thuần.
- Theo giới: Nam cao hơn nữ khoảng 3-5 mmHg. - Theo tư thế; chuyển từ nàm sang đứng, HA tãng nhẹ 10-20 mmHg để đảm bảo cung cấp máu tốt cho các bộ phận cơ thể. - Theo che độ ăn: Trên the giới, người ta đã nghiên cứu sâu vấn đề này và từ lâu đã khẳng định là chế độ ăn mặn làm HA tăng cao, thậm chí gây bệnh THA. - Theo mức độ vận động the lực và kể cả mức lao động trí óc, khi có gắng sức thì HA tãng cao, gắng sức rất lớn thì HA sẽ tăng rất cao.
Het gắng sức thì HA nhanh chóng trở về mức cũ. - Theo trạng thái tâm thần kinh: căng thẳng thần kinh, stress dễ làm cho tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm giải phóng nhiều adrenalin và nor-adrenalin làm tim đập nhanh và THA. Sự cỏ mật của thầy thuốc khi đển khám bệnh nhiều khi cũng làm THA cho một số người được khám, nhất là đối với phụ nữ, thanh niên dễ bị xúc động: HA tăng nhanh trong 1 đển 4 phút dầu, kéo dài trung bình 10 phút, HATT có the tăng tới 27 mmHg ( ít nhất là 4 mmHg, có người nhiều cao nhất là 75 mmHg), HATTr có thể tàng tới 15 mmHg ( có người tăng tới 36 mmHg). Một nghiên cứu trong nước cho thấy 25% sổ người bình thường có biểu hiện này, nữ nhiều hơn nam, người trẻ nhiều hơn người già.
6 - Theo môi trường sống: Môi trường sổng có nhiều tiếng ồn, không an toàn dễ gây căng thang thần kinh và làm tăng huyểt áp. - Theo thời tiết: thay đổi thời tiết dễ có ảnh hưởng đến HA, lạnh nhiều thì các mạch máu ở ngoại vi co lại làm huyết áp tăng, nóng nhiều thì các mạch máu ngoại vi giãn ra làm giảm HA. - Theo hoạt động trong ngày: theo dõi HA liên tục 24 giờ bằng máy ghi tự động cho thấy: Ban đêm cả HATT và HATTr đều giảm 20% so với ban ngày, thấp nhất vào khoảng 2- 3 giờ sáng. Thức giấc tạm thời thì HA lại tăng nhẹ, đến khi ngủ lại thì HA lại giảm.
Lúc này hoạt động của hệ thần kinh giao cảm là thấp nhất. Gan sáng, HA tăng dan bắt đầu từ 4 - 5 giờ sáng, cho đển khi tỉnh dậy thi tăng nhanh hơn. Trong ngày HA dao động nhẹ tăng theo mức vận động, có khi khá cao (gắng sức nhiều, xúc cảm, suy nghỉ căng thẳng), giảm khi nghỉ ngơi. Chiều từ khoảng 17 giờ HA lại tăng lên nhẹ.
Tuy vậy những dao động của HA nói chung vẫn ở trong giới hạn sinh lý bình thường, thường chỉ khi có lao động the lực quá nặng thì HA mới tăng cao hơn mức quy định nhưng sau đó lại nhanh chóng trở lại mức cũ 7 1. Phân loại THA Phân độ THA theo hội tim mạch và tăng huyết áp châu Ảu ESC/ESH-2007[9]: Bảng 1. Chia độ tăng huyết áp theo ESC/ESH-2007 Phàn loại HATT (mmHg) HHTTr (mmHg) Tối ưu < 120 <80 Bình thường 120-129 80- 84 Binh thường cao 130- 139 85- 89 THA độ 1 140- 159 90- 99 Tha độ 2 160- 179 100-109 THA độ 3 > 180 > 110 THA tâm thu đơn độc > 140 <90 Theo Liên Uỷ ban quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa Kỳ (Join National Committee- JNC) JNC VII (năm 2003) chia THA như sau Bảng 1. Phân độ tàng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)[9] Phân độ THA HATT (mmHg) HHTTr (mmHg) Bình thường < 120 <80 Tiền THA 120- 139 80- 89 THA đội 140-159 90- 99 THA độ II > 160 > 100 1.
Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp ❖ Lâm sàng Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh. Hay gặp nhất đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra có thể có hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi. nhưng các tiệu chứng này cũng không phải là biểu hiện chỉ của mỗi tăng huyết áp. Khi có triệu chúng tăng huyết áp, thường lúc này đã là biển chứng hoặc tình trạng tăng huyết áp đã nặng[3].
8 - Đo HA là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định. Phương pháp korotkoff dùng huyết áp kể thủy ngân hoặc các loại huyết áp kế khác được chuẩn lại 6 tháng 1 lần. số đo HA được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt Nam như sau: - Tại phòng khám: Khi bệnh nhân có trị số HA > 140/90mmHg. Sau khám lại lâm sàng ít nhất 2 hoặc 3 lan khác nhau.
Mỗi lần khám HA được đo ít nhất 2 lần[9J - Tại nhà khi đo nhiều lần đúng phương pháp THA có trị sổ HA >135/85 mmHg - Các dấu hiệu lâm sàng khác: Bệnh nhân có thế béo phì. mặt tròn, cơ chi trên phát triển hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ. Tìm các biêu hiện vữa xơ động mạch trên da (u vàng, u mỡ. Khám tim phổi có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu hiệu suy tim trái.
Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường họp nghẽn hay tắc động mạch cảnh. Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rổn, trong hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang. Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch máu não cũ hoặc nhẹ[19] ❖ Cận lâm sàng Mục đích để đánh giá nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân. Những xét nghiệm tối thiểu * Máu: công thức máu, ure, creatinin, điện giải đồ, cholesterol toàn phần, HDL - c, LDL - c, glucose, acid uric trong máu.
* Nước tiều: protein, hồng cầu. * Soi đáy mắt, điện tâm đồ, X quang tim, siêu âm tim[19], 1. Biến chứng của THA - Biến chứng ỡ tim: trong THA sức cản ngoại vi tăng làm cho tim phải làm việc nhiều để thắng sức cản đó. Do đó lâu ngày tâm thất trái bị dày lên, cơ tim bị giãn ra, khả năng co bóp đàn hồi của tim giảm, thất trái giãn ra gây nên suy tim trái.
Đặc biệt là sau những cơn THA kịch phát dễ gây suy tim trái cấp tính. Động mạch vành cũng dần bị xơ vữa do THA thúc đẩy, gây ra thiếu máu cơ tim cục bộ làm xuất hiện những cơn đau that ngực, mức độ nặng có the gây nhồi máu cơ tim[9]. *Biến chứng ở não: THA lâu ngày làm cho động mạch não mất độ đàn hồi, biến dạng, dễ hình thành những túi phòng nhỏ, rất dễ vỡ khi có cơn THA kịch phát. THA cũng thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch não, lòng động mạch não hẹp lại, gây cản trở tuần hoàn, giảm lưu lượng 9 máu tới nuôi tố chức não gây ra tình trạng thiểu máu não.
Đôi khi tắc mạch não gây ra hiện tượng nhũn não, còn gọi là nhồi máu não. Các biến chứng não ở bệnh nhân THA rất đa dạng: tù TBMMN (do tắc mạch não hoặc xuất huyết não), đến xơ vữa mạch nào, thiểu năng trí tuệ.TBMMN thường xảy ra đột ngột với rất ít dấu hiệu báo trước. Những dấu hiệu cảnh báo: - Gặp khó khăn trong việc nói hoặc hiếu người khác - Đột nhiên bị đau đầu dữ dội, choáng váng, mất tri giác, ngủ gà hoặc hôn mê - Bị yểu đột ngột ở một phần cơ thê - Đột nhiên nhìn mờ hoặc nhìn nhòe, có thể chỉ bị ở một bên mắt - Tiểu tiện không tự chủ hoặc bí tiêu hoàn toàn [10]. - Biến chứng ở thận: Tăng huyết áp gây ra ton thương thận, tốn thương này diễn ra từ từ trong một thời gian dài.