Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu sơ lược về cây dưa lê 1. Nguồn gốc Dưa lê là loại rau ăn quả ngắn ngày, thuộc nhóm inodorus, loài melo, chi cucumis, họ Bầu bí (Cucurbitaceae). Theo Kirkbride (1993), giống dưa lê hoang dại được thuần hóa ở phía đông Địa Trung Hải và Tây Á từ 4.000 năm trước sau đó lan rộng khắp châu Á.
Qua thời gian dài trồng trọt, dưa lê đã phát sinh rất nhiều kiểu gen mới. Các nước Iran, Uzbekistan, Afghanistan, Trung Quốc và An Độ đóng vai trò rất quan trọng trong sự đa dạng về kiểu gen của loại dưa lê này. Đặc điểm thực vật học của cây dưa lê Dưa lê thuộc loại cây hàng năm, thân thuộc dạng leo, có nhiều đốt, mỗi đốt có một lá và tua cuống, thân cây có thé dài đến 3m, rỗng bên trong và xốp, bên ngoài phủ nhiều lông tơ, có nhiều nhánh gần gốc với số lượng có thé lên đến 28 nhánh (Jeffrey, 1967). Cây dưa lê có dang lá đơn, có chia thùy, xếp xen kẽ, cuống lá dài 4 đến 10cm, phiến lá có thể hình tròn, hình oval hoặc hình thận, hơi lõm ở giữa, đường kính 3 đến 15cm, lá hình chân vit có 5 đến 7 thùy, bề mặt phủ lông mịn, màu sắc từ xanh nhạt đến xanh đậm (Jeffrey, 1967).
Hoa có 5 cánh, màu vàng. Hoa đực mọc từ thân, nách thân chính và các nhánh từ 2 đến 4 hoa với 3 nhị. Hoa cái đơn tính hoặc lưỡng tính mọc đơn ở cành cấp 1, bầu nhụy hình ellipsoid, đầu nhụy có 3 thùy, lá đài và cánh hoa dính nhau ở phần ống và dính vào bầu nhụy. Hoa nở vào buổi sáng và đóng lại vào buổi chiều.
Cây bắt đầu ra hoa sau khi gieo hạt được 25 - 30 ngày (Kirkbride, 1993). Ở hầu hết các giống, cụm hoa đực đầu tiên hình thành ở vị trí lá thứ 5 đến 12 trên cành cấp một, trong khi hoa lưỡng tính hay hoa cái mọc trên cành cấp 2. Hoa chỉ nở trong một ngày và thụ phan chủ yếu nhờ côn trùng, gió. Mỗi cây chỉ đậu từ 3 đến 6 quả (số lượng hoa cái/cây từ 30 - 100 hoa).
Quả hình tròn hoặc hình thuôn, bề mặt có vân hoặc bao phủ bởi các sợi lông tơ nhỏ, màu sắc vỏ quả từ trắng, xanh đến vàng. Kích thước quả tùy thuộc theo giống. Thịt quả có màu vàng, cam hoặc trắng. Hat có dạng hình hạt thông, kích thước từ 5 đến 12 mm, có đầu nhọn, hạt màu trang hoặc vàng nâu, trơn nhẫn, hạt có hàm lượng dau cao nên dé mat sức nay mam.
Dang lá (A); hoa đực (B), hoa cái (C), qua dưa lê (D) Nguon: Đoàn Hữu Cường, 2021 1. Yêu cầu ngoại cảnh của cây dưa lê Dưa lê phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và khó, nhiều ánh sáng. Nhiệt đó tối ưu cho sự phát triển từ 18 - 28°C, phát triển chậm khi nhiệt độ đưới 12°C. Dưa lê có thể chịu được nhiệt dé trong nhà màng lên tới 40°C nhiều giờ mỗi ngày, cây dễ chết trong điều kiện sương giá.
Độ âm thích hợp 70 - 80%, đó 4m cao làm cầy chậm phát triển, ảnh hưởng đến chất lượng quả và gây ra các bệnh trên lá. Dưa lê là cây ưa sáng, yêu cầu ánh sáng cho dưa từ 8 - 12 giờ. Quang kì ngắn kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh sẽ thúc đây cây ra hoa cái nhiều làm tăng tỷ lệ đậu quả, quả chín sớm, năng suất cao. Cây không đủ ánh sáng hay do trồng với mật độ dày, bị che khuất sẽ giảm tỉ lệ đậu quả, kích thước và khả năng tích lũy đường trong quả kém (Mai Thị Phương Anh, 1996).
Dưa lê thích hợp cho loại đất tơi xốp như đất phù sa, đất thịt pha cát có độ pH từ 6 - 6,5. Các loại đất có pH< 6 thì cây bị vàng lá và ít hoa cái. Sâu bệnh hại chính trên cây dưa lê Sâu hại thường gặp trên cây dưa lê chủ yếu là bọ trĩ (Thrips palmi Karny). Bọ tri thường xuất hiện và gây hại nhiều trong giai đoạn 5 - 10 ngày sau trồng và 45 - 50 ngày sau trồng (Lee và cs, 2015).
Một số bệnh phổ biến gây hại dưa lê như bệnh héo xanh do vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum), bệnh phan trắng do nam (Erysiphe cichoracearum) là các bệnh hại phô biến và gây nguy hiểm đến các vùng sản xuất dua lê cả trên thé giới cũng như ở Việt Nam (Seo và cs, 2017). Ngoài ra còn có sự xuất hiện của các bệnh sương mai (Pseudoperonospora cubensis), bệnh thối thân (Didymella bryoniae) xuất hiện nhiều ở vùng có khí hậu nóng âm hay các vườn dưa lê canh tác trong nhà màng. Có thể kiểm soát được bệnh hại trên cây dưa lê bằng sử dụng các giống kháng bệnh, xử lý hạt giống và sử dụng các loại thuốc hóa học trị nam, vi khuẩn cũng như công tác khử trùng nhà màng trước khi trồng. Cơ sở khoa học của công tác chọn tạo giống Dé có được con lai có ưu thé lai, các dòng bố mẹ sử dung trong các phép lai phải là dong thuần (dòng ở trạng thái đồng hợp tử hoặc gần đồng hợp tử).
Các dòng ưu việt sau khi được tạo ra có thé sử dụng làm bố mẹ để tạo ra các tổ hợp gen mới, tạo ra quần thé con lai mà ở đó có thé tiếp tục chọn lọc để tạo ra giống mới tốt hơn (Phan Thanh Kiếm, 2016). Theo Phan Thanh Kiếm (2016), có nhiều phương pháp tạo dòng tự phối nhưng phô biến nhất là phương pháp tiêu chuẩn (tự giao) và phương pháp cận giao. Trong đó phương pháp tự phối truyền thống, được sử dụng chủ yếu. Phương pháp này tạo ra cường độ phân ly mạnh nên nhanh đạt tới kết quả đồng hợp tử kiểu gen với tỷ lệ cao ở nhiều tính trạng và cho những dòng thuần có khả năng phối hợp cao mà các phương pháp khác chưa thể tạo được.
Sự tự phối dẫn đến sự suy thoái nhất định, nên các dòng này có sức sống không cao và năng suất thấp, nhưng con lai thu được giữa các dòng tự phối thì lại có ưu thê lai cho năng suât cao. Khả năng phối hợp và phương pháp đánh giá khả năng phối hợp trong chọn giống cây trồng 1. Khả năng phối hợp Theo Vũ Đình Hòa (2005), khả năng phối hợp là khả năng của một dòng tự phối khi lai với dòng khác (giống khác) tạo ra thé hệ con có năng suất vượt trội. Ngoài khả năng năng suất của các dòng tự phối, khả năng phối hợp là một tính trạng quan trọng dé chọn dòng làm bố mẹ cho giống lai.
Khả năng phối hợp là khả năng của mớt dong tự phối khi lai với dòng khác (giống khác) tạo ra thế hệ con có năng suất cao. Theo Phan Thanh Kiếm (2016), khả năng phối hợp được đánh giá qua khả năng năng phối hợp chung và khả năng phối hợp riêng. Khả năng phối hợp (KNPH) chung của dòng (hoặc giống) được tính bằng hiệu số giữa giá trị trung bình toàn bộ các tô hợp lai có nó so với trung bình chung của quan thé lai nghiền cứu, là giá trị hình thành do hiệu ứng cộng tính của các gen trong dòng (hoặc giống) đó đóng góp vào giá trị trung bình của toàn bộ các tổ hợp mà nó tham gia, khả năng phối hợp chung khổng mất đi ở các đời sau. Khả năng phối hợp riềng của dòng ¡ với một dòng j trong tổ hợp lai ¡ x j là giá trị hình thành do hiệu ứng phi cộng tính (tính trội và có thể có tương tác gen) của các gen trong F1 đóng góp vào giá trị của tổ hợp này, được tính bằng giá trị chênh lệch giữa F1 với trung bình chung sau khi đã trừ đi giá trị khả năng phối hợp chung của hai bố mẹ, kha năng phối hợp riéng sẽ mat dần đi ở các đời sau.
Trong chọn giống bằng con đường hữu tinh, sử dụng các tô hợp lai với những giống có KNPH chung cao nhưng biến động KNPH riêng thấp rất có ý nghĩa đối với việc chọn lọc các đời sau nhằm tạo ra giống mới, còn sử dụng các tô hợp lai với những giống vừa có KNPH chung cao vừa có khả năng biến động KNPH riêng cao rất có ý nghĩa đối với việc tạo ra các tổ hợp có ưu thế lai cao. Giá trị KNPH chung và KNPH riêng thay đôi phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. Phương pháp đánh giá khả năng phối hợp Người ta thường xác định khả năng phối hợp theo phương pháp lai đỉnh (topeross), luân giao (diallel-cross) hoặc luân giao từng phan (partial diallel- cross) (Phan Thanh Kiếm, 2016). Đối với phương pháp lai luân giao, Griffing (1956) đã đưa ra 4 phương pháp lai với 4 cách tính toán khác nhau cho p dòng bố me dé xác định khả năng phối hợp.
Phương pháp 1: số kiểu gen tạo thành là p2, gồm đầy đủ các cặp lai thuận, nghịch và đòng bố mẹ. Phương pháp 2: số kiểu gen tạo thành là p(p+1)/2, gồm tất cả các cặp lai thuận va dòng bố mẹ. Phương pháp 3: số kiểu gen tạo thành là p(p-1), gồm tat cả các cặp lai thuận và nghịch. Phương pháp 4: chỉ nghiền cứu p(p - 1)/2 con lai thuận.
Phương pháp lai luân giao với p dòng bố mẹ theo mô hình phương pháp 4 của Griffing (1956) được áp dụng rộng rãi đối với dòng tự phối của cây giao phan. Kha năng phối hợp riêng (KNPHR) được xác định bằng công thức: KNKHR.—-L(Œ: — ic Mae — Sg i he) (n+1)(n+2) Trong do: KNKHRx: Kha năng kết hợp riêng của dong i với dòng k n: Số đòng tham gia vào sơ đồ lai dialen X¡: Tổng số đo của các tô hợp lai của dòng i với các dòng khác trong sơ đồ X,: Tổng số đo của các tổ hợp lai của dòng k với các dong khác trong sơ đồ Xj Tổng số đo năng suất của tô hợp lai ¡ x k X: Tổng số đo của tat cả các tổ hợp lai trong sơ đồ 1.Ưu thé lai và xác định mức biểu hiện ưu thế lai 1. Ưu thế lai Theo Stuber (1994), ưu thế lai là hiện tượng con lai đời F; vượt trội hơn bố mẹ một hoặc một số tính trạng, đặc tính. Mức độ ưu thế lai phụ thuộc vào loại cây trông, loại tính trạng và vật liệu bô mẹ.
Chọn lọc giống trên cơ sở ưu thế lai là chọn lọc khả năng phối hợp cao ở vật liệu tham gia, tức là chọn các dòng bố mẹ có khả năng phối hợp cao trong lai tạo. Thực tế cho thấy quá trình dé tìm ra tổ hợp lai tốt nhất là cổng việc phức tạp và xác suất thành cóng rất thấp.