Khóa luận: Hóa chất nông nghiệp trên nhãn tại Long Hồ, Vĩnh Long

Khóa luận khảo sát tình hình sử dụng hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn giai đoạn kinh doanh tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2022.

Chuyên ngành

Bảo vệ Thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ Tổng quan thực trạng

Khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ là hoạt động cần thiết nhằm đánh giá mức độ sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong canh tác nhãn thương phẩm. Nghiên cứu do sinh viên Hồ Thanh Chính (Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM, 2023) thực hiện tại hai xã An Bình và Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long – vùng trọng điểm trồng nhãn của Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy 100% hộ nông dân được khảo sát đều có kinh nghiệm canh tác trên 10 năm, với 44,28% hộ có thâm niên hơn 28 năm. Cây nhãn tại đây chủ yếu ở giai đoạn kinh doanh trẻ (6–8 năm tuổi), diện tích trung bình dưới 5.000 m²/hộ. Hai giống phổ biến là Nhãn Xuồng Cơm Vàng (58,57%) và Nhãn Idor (30%). Nông dân chủ yếu mua giống từ các trại cây trong khu vực ĐBSCL. Việc sử dụng hóa chất nông nghiệp bao gồm cả phân bón hữu cơ, vô cơ và thuốc BVTV, phản ánh rõ thực trạng quản lý dịch hại và dinh dưỡng trong hệ thống canh tác hiện nay. Dữ liệu này là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp canh tác bền vững, an toàn và hiệu quả cho vùng chuyên canh nhãn Long Hồ.

1.1. Đặc điểm vùng trồng và giống nhãn phổ biến

Huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nổi bật với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi cho cây nhãn phát triển. Hai xã An Bình và Đồng Phú được chọn làm điểm khảo sát do mật độ vườn nhãn kinh doanh cao. Nhãn Xuồng Cơm VàngNhãn Idor chiếm ưu thế nhờ năng suất ổn định và thị trường tiêu thụ tốt. Hầu hết cây giống được mua từ các cơ sở uy tín trong Đồng bằng sông Cửu Long, đảm bảo chất lượng đầu vào. Tuổi vườn trung bình còn trẻ (6–8 năm), cho thấy tiềm năng mở rộng diện tích và nâng cao năng suất trong tương lai.

1.2. Hồ sơ nông hộ và kinh nghiệm canh tác

Tất cả 70 hộ được khảo sát đều có kinh nghiệm trồng nhãn trên 10 năm, trong đó gần một nửa (44,28%) có thâm niên hơn 28 năm. Điều này cho thấy mức độ am hiểu sâu về sinh lý cây trồng và dịch hại. Tuy nhiên, diện tích canh tác trung bình thấp (<0,5 ha/hộ), phản ánh mô hình sản xuất nhỏ lẻ. Kiến thức canh tác chủ yếu dựa trên kinh nghiệm truyền thống, chưa được cập nhật đầy đủ theo hướng nông nghiệp bền vững hoặc sử dụng hóa chất nông nghiệp an toàn.

II. Vấn đề nổi bật trong sử dụng hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn

Việc sử dụng hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn tại Long Hồ bộc lộ nhiều bất cập liên quan đến an toàn sinh học và môi trường. Nghiên cứu ghi nhận 21,42% hộ vẫn dùng Regent 800WG – hoạt chất fipronil – dù đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam từ năm 2020 do nguy cơ tồn dư độc hại. Ngoài ra, 42,86% nông dân phối trộn thuốc BVTV theo kinh nghiệm cá nhân, không theo hướng dẫn kỹ thuật, làm tăng nguy cơ kháng thuốc và ảnh hưởng hệ sinh thái. Các dịch hại phổ biến như sâu đục quả, nhện đỏ, thán thư, nấm hồng được kiểm soát chủ yếu bằng hóa chất, ít áp dụng biện pháp sinh học hay IPM. Phân bón hóa học cũng được sử dụng không đồng đều: lượng NPK dao động lớn (0,62–1,02 kg N/cây/năm), trong khi phân hữu cơ chỉ được 41,42% hộ áp dụng. Thực trạng này cho thấy thiếu hụt kiến thức về quản lý dịch hại tổng hợpsử dụng phân bón hợp lý, tiềm ẩn rủi ro cho chất lượng nông sản và sức khỏe người tiêu dùng.

2.1. Sử dụng thuốc BVTV sai quy định và phối trộn tùy tiện

Một phát hiện đáng lo ngại là việc sử dụng Regent 800WG – chứa fipronil – dù đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam. Ngoài ra, gần một nửa số hộ phối trộn thuốc BVTV theo kinh nghiệm, không tuân thủ liều lượng hay thời gian cách ly. Điều này làm tăng nguy cơ tồn dư hóa chất trên quả nhãn, ảnh hưởng đến xuất khẩu và sức khỏe người tiêu dùng. Các hoạt chất phổ biến thuộc nhóm pyrethroid, triazole, spinosyns – đa số nằm trong danh mục được phép – nhưng việc lạm dụng vẫn dẫn đến kháng thuốc ở sâu bệnh.

2.2. Mất cân đối trong sử dụng phân bón hữu cơ và vô cơ

Chỉ 41,42% hộ sử dụng phân hữu cơ (chủ yếu là phân cáOganiconco), trong khi phân vô cơ được áp dụng phổ biến dưới dạng NPK hỗn hợp. Lượng bón dao động lớn giữa các hộ, thiếu căn cứ khoa học. Việc tập trung bón sau thu hoạch và giai đoạn nuôi quả là hợp lý, nhưng thiếu bổ sung vi lượng và canxi (CaO) đầy đủ. Sự mất cân đối này làm suy giảm độ phì đất, ảnh hưởng lâu dài đến năng suất cây nhãn.

III. Phương pháp khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ

Phương pháp khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ được thực hiện theo thiết kế định lượng kết hợp định tính. Nhóm nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp 70 hộ nông dân tại xã An Bình và Đồng Phú bằng phiếu khảo sát chuẩn hóa, đồng thời tiến hành quan sát thực địa để xác minh thông tin. Các biến số thu thập bao gồm: loại phân bón, thuốc BVTV, liều lượng, tần suất, thời điểm sử dụng, và đặc điểm vườn nhãn. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê (SPSS, Excel) để tính toán tần suất, trung bình, độ lệch chuẩn và mức độ tin cậy 95%. Danh mục thuốc BVTV Việt Nam 2020 được dùng làm cơ sở pháp lý để đánh giá tính hợp lệ của hóa chất sử dụng. Phương pháp này đảm bảo độ tin cậy cao, phản ánh sát thực tiễn canh tác tại địa phương, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu sâu hơn về an toàn thực phẩmnông nghiệp bền vững.

3.1. Thiết kế khảo sát và thu thập dữ liệu thực địa

Khảo sát được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12/2022. Mỗi hộ được phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi có cấu trúc, bao gồm thông tin về diện tích, giống, hóa chất nông nghiệp, và kỹ thuật canh tác. Quan sát thực địa giúp xác minh nhãn hiệu thuốc, bao bì phân bón và tình trạng sâu bệnh. Phương pháp này kết hợp định lượng (số liệu thống kê) và định tính (ghi chú thực địa), đảm bảo tính toàn diện.

3.2. Phân tích và đối chiếu với danh mục thuốc hợp pháp

Tất cả thuốc BVTV được ghi nhận và đối chiếu với Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam năm 2020. Kết quả cho thấy 48 loại thuốc được dùng, thuộc 20 hoạt chất và 11 nhóm hóa học. Ngoại lệ là Regent 800WG – bị cấm nhưng vẫn xuất hiện. Việc đối chiếu này giúp xác định vi phạm quy định và đề xuất can thiệp chính sách.

IV. Giải pháp tối ưu hóa sử dụng hóa chất trên cây nhãn Long Hồ

Để tối ưu hóa sử dụng hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ, cần triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và chính sách. Trước hết, tập huấn nông dân về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)sử dụng phân bón theo nhu cầu cây trồng là cấp thiết. Cần loại bỏ hoàn toàn thuốc cấm như Regent 800WG thông qua kiểm tra đầu vào và xử phạt vi phạm. Khuyến khích sử dụng phân hữu cơ vi sinh, phân chậm tan, và vi lượng để cải tạo đất. Đồng thời, xây dựng mô hình trình diễn áp dụng nông nghiệp bền vững tại An Bình và Đồng Phú để nhân rộng. Hợp tác với Trạm BVTV huyện Long Hồ để giám sát định kỳ và cập nhật danh mục thuốc mới. Giải pháp này không chỉ giảm rủi ro tồn dư hóa chất, mà còn nâng cao giá trị thương hiệu nhãn Long Hồ trên thị trường trong nước và quốc tế.

4.1. Đào tạo nông dân theo hướng IPM và bón phân cân đối

Các lớp tập huấn kỹ thuật nên tập trung vào nhận diện sâu bệnh, ngưỡng gây hại, và biện pháp sinh học thay thế hóa chất. Hướng dẫn bón phân theo 4 đúng (đúng loại, đúng liều, đúng lúc, đúng cách) giúp tăng hiệu quả sử dụng và giảm ô nhiễm. Ưu tiên phân hữu cơphân NPK chuyên dùng cho nhãn.

4.2. Tăng cường giám sát và xây dựng vùng sản xuất an toàn

Trạm BVTV huyện Long Hồ cần phối hợp với chính quyền địa phương để giám sát định kỳ việc mua bán và sử dụng hóa chất nông nghiệp. Xây dựng vùng nhãn an toàn với chứng nhận VietGAP hoặc GlobalGAP sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu. Cần có chế tài xử lý nghiêm với hành vi sử dụng thuốc cấm.

V. Ứng dụng thực tiễn từ kết quả khảo sát nhãn Long Hồ

Kết quả khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ đã được chuyển hóa thành khuyến nghị kỹ thuật cho địa phương. Cụ thể, UBND xã An BìnhĐồng Phú đã tiếp nhận dữ liệu để cập nhật vào kế hoạch phát triển nông nghiệp giai đoạn 2023–2025. Một số hộ tiên phong đã thử nghiệm mô hình nhãn giảm hóa chất, kết hợp phân hữu cơthuốc sinh học, cho kết quả khả quan về năng suất và chất lượng quả. Ngoài ra, dữ liệu này còn hỗ trợ Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM trong việc thiết kế chương trình đào tạo bảo vệ thực vật sát thực tiễn. Về dài hạn, nghiên cứu mở ra hướng phát triển hệ thống cảnh báo sớm dịch hạinền tảng số hóa quản lý vườn nhãn, giúp nông dân ra quyết định chính xác hơn trong sử dụng hóa chất nông nghiệp.

5.1. Chuyển giao mô hình canh tác nhãn an toàn

Các mô hình trình diễn tại An Bình đã áp dụng giảm 30% thuốc hóa học, thay bằng chế phẩm sinh họcbẫy bả. Kết quả cho thấy sâu đục quảnhện đỏ được kiểm soát hiệu quả, đồng thời chất lượng nhãn tăng (độ ngọt, vỏ bóng). Mô hình này đang được nhân rộng với sự hỗ trợ của Trạm BVTV.

5.2. Ứng dụng dữ liệu vào đào tạo và chính sách

Dữ liệu khảo sát được tích hợp vào giáo trình ngành Bảo vệ Thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM. Đồng thời, Sở NN&PTNT Vĩnh Long sử dụng kết quả để đề xuất chính sách hỗ trợ phân hữu cơkiểm soát thuốc BVTV chặt chẽ hơn tại các vùng chuyên canh cây nhãn.

VI. Tương lai của khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ

Tương lai của khảo sát hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn Long Hồ gắn liền với xu hướng nông nghiệp thông minhchuỗi giá trị xanh. Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng sang phân tích tồn dư hóa chất trên quả nhãn và đất, kết hợp cảm biến IoT để theo dõi vi khí hậu vườn. Đồng thời, phát triển ứng dụng di động giúp nông dân tra cứu danh mục thuốc hợp pháp, liều bón khuyến cáo và cảnh báo dịch hại theo thời gian thực. Về chính sách, cần xây dựng chỉ dẫn địa lý cho nhãn Long Hồ, trong đó tiêu chí sử dụng hóa chất an toàn là điều kiện bắt buộc. Điều này không chỉ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, mà còn nâng tầm thương hiệu nông sản Vĩnh Long trên thị trường toàn cầu.

6.1. Hướng đến nông nghiệp số và giám sát thông minh

Công nghệ IoTtrí tuệ nhân tạo có thể giúp giám sát sâu bệnhđộ ẩm đất tự động. Ứng dụng di động sẽ cung cấp khuyến cáo bón phân, lịch phun thuốc, và cảnh báo thuốc cấm, giúp nông dân sử dụng hóa chất nông nghiệp chính xác hơn.

6.2. Xây dựng thương hiệu nhãn Long Hồ theo tiêu chuẩn xanh

Việc đăng ký chỉ dẫn địa lý cho nhãn Long Hồ cần đi kèm tiêu chuẩn sản xuất an toàn, trong đó hóa chất nông nghiệp được kiểm soát nghiêm ngặt. Điều này mở ra cơ hội xuất khẩu sang EU, Mỹ – những thị trường yêu cầu tồn dư hóa chất gần bằng 0.

14/03/2026
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật khảo sát tình hình sử dụng hóa chất nông nghiệp trên cây nhãn dimocarpus longan giai đoạn kinh doanh tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây nhãn 1.1 Nguồn gốc Nhãn được cho là có nguồn gốc từ dãy núi trải dai từ Mién Điện đến miền nam Trung Quốc, và có thể kéo dài xuống vùng đất thấp phía tây nam Ấn Độ và Sri Lanka (Tindall, 1994). Các loài cây dại đã được phát hiện chiếm ưu thế về diện tích trong các khu rừng mưa nhiệt đới hoặc gió mùa ở miền trung và tây nam Hai Nam, và ở phía tây và tây nam của Vân Nam (Zhuang et al. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng đất thấp am, độ cao dưới 1.200 m so với mực nước biển ở Vân Nam, và ở thung lũng, vùng đồi núi có độ cao đưới 500 m so với mực nước biển ở Hải Nam (Qiu và Zhang, 1996).2 Phân loại khoa học Theo Paull va ctv (2011), Cây nhãn có phân loại khoa học: Giới (Kingdom): Plantae, Ngành (Division): Angiospermae, Lớp (Class): Eudicots, Bộ (Order): Sapindales, Ho (Family): Sapindaceae, Chi (Genus): Dimocarpus, Loài (Species): Dimocarpus longan.3 Dac diém thwe vat hoc Theo Nguyén Van Ké va Thai Nguyén Diém Huong (2019): Than: Cay cao trung binh 7 - 13 m. Tan: Cây xòe rộng hay mọc đứng tùy theo giống, biện pháp nhân giống và biện pháp cắt tia.

Cây phân cành mạnh mẽ, có lá xanh quanh năm. Lá: Lá kép có từ 3 - 6 cặp lá chét, mép lá trơn, đầu và gốc lá bầu ở long nhãn, thon ở tiêu da bò. Mặt dưới lá xanh mốc, ở giống nhãn xuồng mặt dưới lá có lông mịn; lá non có màu vàng hoặc nâu đỏ. Hoa: Phát hoa là chùm tụ tán ở ngọn cành mọc trên các cơi đọt mới sinh ra từ mùa cắt tỉa sau thu hoạch, vì vậy hàng năm cần bam dot sửa cành.

Chiều dai phat hoa từ 8 đến 40 cm. cấu tạo hoa gồm 5 - 6 tai lá (lá đài), 5 - 6 cánh hoa hẹp, 6 - 10 nhị đực, noãn sảo 2 - 3 thùy. Trong một phát hoa có nhiều loại hoa, hoa lưỡng tính có bầu noãn phát triển 1 ngăn đề trở thành quả. Hoa nhãn thụ phấn chéo nhờ côn trùng.

Sự thụ phấn hữu hiệu nhất là từ 8 giờ sáng tới 2 giờ chiều. Tùy theo khí hậu và giống mà thời gian từ ra hoa tới thu hoạch kéo dài từ 5 đến 7 tháng. Quả: Quả nhãn (long nhãn tròn hơi đẹp theo bề đứng), đẹp theo bề nghiêng ở một số giống như nhãn tiêu. Quả có vỏ vàng sậm (tiêu da bò), vàng ửng hồng (tiêu hồng), vàng nhạt (tiêu trang),.

Đường kính quả từ 1,25 đến 3,5 cm, có tử y đục, tróc, vị ngọt mùi thơm ete, thịt quả mỏng nhiều nước ở long nhãn, ráo ở các loại nhãn tiêu. Nhờ tác dụng kỹ thuật ở một số giống nhãn có thé thu hai vụ/năm, ở một số còn lai 1 vụ/năm. Mùa thu hoạch chính là tháng 6 - 8 dương lịch vụ phụ từ tháng 12 tới thang 1 dương lich (đối với giống có thời gian nuôi quả ngắn). Cây trồng từ nhánh chiết khoảng 3 năm là có thé lay quả.

Hạt: Tròn nâu sậm và láng, to và nứt trắng (long nhãn), bé vừa ở tiêu da bò, tiêu hong, rất bé ở tiêu đa me, thái long tiêu. Hat mau hư nên gieo ngay lúc còn tươi, hạt nảy mam sau 7 - 10 ngày gieo, cây con lớn rat chậm và cho quả độ 7 năm sau trồng.4 Kỹ thuật chăm sóc cây nhãn giai đoạn kinh doanh 1.1 Bón phần Theo Cục Trồng trọt (2022): Nguyên tắc bón phân: bón đủ lượng theo quy trình; chia làm nhiều lần bón nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón, đảm bảo đáp ứng theo nhu cầu từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Thời kỳ sau thu hoạch: là khởi đầu việc chăm sóc cây nhãn trong một mùa vụ mới. Thời kỳ này, cây cần khôi phục sức sinh trưởng và phục hồi bộ tán sau khi được cắt tỉa.

Vì nguyên tố N có tác dụng thúc đây sinh trưởng của thực vật nên trong thời kỳ này, cần bón lượng đạm bằng 50% tông lượng đạm bón cả năm. Thời điểm bón trong vòng 5 - 7 ngày sau khi thu hoạch quả. Lượng bón so với tổng lượng cả năm: 100% phân hữu cơ + 30% Đạm urea + 70% Super lân + 30% KCI. Thời kỳ cây ra hoa: cây cần huy động một nguồn vật chất lớn để phát triển các chùm hoa.

Do đó, trong thời kỳ này cần bón thúc phân, kết hợp tưới nước làm hoa ra đồng loạt, kip thời bổ sung đinh dưỡng cho cây, tránh làm cho cây bị suy kiệt trong quá trình ra hoa. Lượng bón: 30% Đạm urea + 30% Super lân + 20% KCI.1 Lượng phân bón theo tuổi cây trong năm Liều lượng phân bón (kg/cây/năm) Tuổi cây (năm) Dam Ure Super lan KCl Phân chuồng 4-6 0,3 - 0,5 0,7 - 1,0 0,5 - 0,7 30 - 50 7-10 0,8- 1,0 1,5- 1,7 1,0 - 1,2 50-70 >10 1,2 - 1,5 2,0 - 3,0 1,2 - 2,0 70- 100 (Nguồn Cục Trông trọt - Bộ Nông nghiệp va Phat triển nông thôn, 2022) Thời ky cây nuôi quả lớn, thành thục va chín được tinh từ sau khi kết thúc giai đoạn ra hoa đến khi thu hoạch. Đây là thời kỳ cần bổ sung nhiều dinh dưỡng, đặc biệt là cần nhiều nguyên tố kali dé thúc cho quả sinh trưởng và tích lũy dinh dưỡng (bởi Kali là nguyên tố được coi như chat xúc tác cho quá trình vận chuyền các chất dinh dưỡng tích lũy vào các cơ quan kinh tế). Điều này không những nâng cao năng suất mà còn nhằm cải thiện chất lượng quả.

Lượng bón: 40% Đạm urea + 50% KCI. Trong thời kỳ nảy, có thé chia lượng phân làm hai lần bón cách nhau 30 ngày. Lần 1 bón khi tat hoa được 10 ngày. Lưu ý: Có thé sử dụng phân NPK tổng hợp dé thay thế lượng phân don.

Tuy nhiên, các loại phân hỗn hợp có tỷ lệ N:P:K khác nhau, cần tham khảo hướng dẫn dé tính lượng bón cho phù hợp. Ở những nơi không có phân chuồng, có thé thay thé bang phân hữu cơ vi sinh với lượng quy đôi: 10 kg phân chuồng tương đương với 0,5 - 1,0 kg phân hữu cơ vi sinh.2 Tỉa cây và tỉa hoa quả Theo Nguyễn Văn Kế và Thái Nguyễn Diễm Hương (2019): Thời kỳ kinh doanh: ngoài việc cắt tỉa, sửa cành cho tán cây cân đối và thoáng, người ta còn bam dot sau khi thu hoạch, thường sâu 10 - 20 em tính từ ngọn vào, cành sẽ đâm dot, dot dot non đầu tiên ra khoảng 10 - 15 ngày sau bam, lat bớt 1 số dot; khi đợt đọt non này già đi và đợt đọt non thứ hai xuất hiện khoảng 30 - 40 ngày sau đó, khi đợt đọt non thứ hai già thì áp dụng biện pháp xử lý ra hoa. Trong thời kỳ này cũng cần theo đõi để tia hoa quả tránh hiện tượng ra qua cách niên. Năm thất mùa sản lượng chỉ độ 20% đến 40% của năm được mùa.

Ở Trung Quốc nhà vườn những năm được mùa thường tia bỏ 40% số phát hoa, và tia bớt 30% số trái non. Tia lúc phát hoa dài khoảng 10 cm vì lúc ấy có thé phân biệt cành yếu hay mạnh. Tia bớt quả non khi quả lớn bằng hột dau, tức sau thụ phan từ 4 đến 6 tuần lễ. Dé các quả thưa ra, đừng giữ quả dính chùm vào nhau.

Sau tỉa các quả còn lại mau lớn. Tia bớt hoa quả sẽ làm cây bớt kiệt sức kết hợp với bón phân cân đối và đầy đủ sẽ làm giảm hiện tượng ra quả cách niên.3 Xử lý ra hoa Tuy theo sức sinh trưởng của cây mà quyết định biện pháp xử lý ra hoa theo Nguyễn Văn Kế và Thái Nguyễn Diễm Hương (2019): Xới xáo một lớp đất mỏng từ gốc ra tới bìa tán, ngưng tưới (xiết nước tạo stress) từ 3 - 6 tuần, cây phản ứng khô hạn sẽ ra hoa. Cách làm này thường chỉ áp dụng vào mùa nghịch và cây ra hoa thất thường. Khoanh vỏ rộng độ 5 mm, lột lớp vỏ vừa khoanh đi đề hạn chế sự tăng trưởng của cây, thúc cây ra hoa, khoanh các cành lớn, sau khi đợt lá thứ nhất già đi (vụ phụ) hay đợt lá thứ hai già đi (vụ chính).

Sự khoanh vỏ cần hạn chế, nó tuỳ theo mùa vụ, thời tiết sức sinh trưởng của cây. Cần chừa lại 1⁄4 số cành để nuôi bộ rễ, sau khoanh vỏ độ 1 tháng cây sẽ ra hoa. Biện pháp này đôi khi bị phê phán là tạo vết thương làm sâu bệnh sẽ dé tan công vào các chỗ bị khoanh. Biện pháp này khá hữu hiệu so với đối chứng, tuy nhiên các trang trại lớn không đủ công làm việc này, nói cách khác biện pháp này thích hợp với sản xuất nhỏ.

Xử lý bằng chất KCIO: có thê tưới vào đất ở mức 30 - 40 g cho mỗi mét đường kính tán cây, như vậy rễ cây có đường kính tán 4 m thì sử dụng 120 g đến 160 g clorat kali, hoà nước cần từ 10 - 20 L nước, tưới dung dịch vào đất cách gốc khoảng 50 - 70 cm. Cây sẽ cảm ứng và ra hoa khá tốt và ra hoa độ 4 - 6 tuần sau xử lý. Đề đạt hiệu quả cao, trước khi xử lý cần chăm sóc cây tốt: Sau thu hoạch vụ trước cần cắt tỉa cây, loại bỏ các cành nằm khuất trong tán, cành sâu bệnh; bón phân cân đối cho các cơi ra mau và sớm trưởng thành ; Khi lá non gần đạt kích thước tối đa thì không bón đạm mà tăng cường bón lân độ 0,5 kg đến 1 kg lân tùy cây lớn bé; Sau khi cây ra coi dot thứ 2 (mùa chính) va màu lá chuyên sang xanh lot là thời điểm thích hợp dé xử lý ra hoa. Trong tuần lễ đầu khi xử lý cần tưới nước đủ âm dé hóa chất hoà tan và thấm vào rễ.

Nếu xử lý nồng độ thấp quá hoặc chọn thời điểm sai hoa ra sẽ không đều. Khi cây có hiện tượng lá rụng thì có thể nguyên nhân do nồng độ chất KCIO: cao. Giống như ở trường hợp cây xoài cần căn thời tiết đừng dé lúc hoa nở trời có mưa, bão sẽ làm hoa khó thụ phấn và bị rụng nhiều. Ngoài ra tránh mùa thu hoạch trùng với mùa chôm chôm và vải giá sẽ thấp.

Clorat kali có thé xử lý bằng cách phun lên tán cây (lá) ở nồng độ 25 - 40 g/§ L tức từ 0,3 tới 0,5% xử ly đơn độc hay kết hop với khoanh vỏ đều làm cây nhãn tiêu da bò ra hoa được. Tại Thái Lan nồng độ phun trên lá là 1/1. Ngoài ra người ta còn chích vào thân cây với liều chích là 0,25 g cho mỗi cm đường kính thân (khi đường kính ít hơn 15 cm).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ