CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Khuyết tật giao tiếp 1.1 Khái niệm giao tiếp và khuyết tật giao tiếp Giao tiếp được coi là quyền của con người và quan trọng để tham gia thành công vào xã hội [54]. Khi giao tiếp bị suy giảm, một người có thể gặp phải các hạn chế hoạt động và hạn chế sự tham gia ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của họ như những thành viên bình thường khác trong cộng đồng [60]. Khuyết tật giao tiếp là sự suy giảm khả năng tiếp nhận, truyền đạt, xử lý và hiểu những thông tin lời nói, phi lời nói và những thông tin mang tính biểu tượng, là bất cứ vấn đề nào mà mọi người gặp phải với lời nói, ngôn ngữ, giọng, sự trôi chảy hay giao tiếp xã hội [49]. Một KTGT có thể ở mức độ từ nhẹ đến nặng.
Nó có thể là tình trạng bẩm sinh, tiến triển hay mắc phải. Một KTGT có thể nguyên phát hoặc có thể là thứ phát sau các khuyết tật khác [49]. Ở trẻ em, KTGT có thể được xác định sớm do những bất thường về mặt cấu trúc của trẻ như tật khe hở môi vòm họng, hội chứng Down… hoặc cũng có thể được nhận biết trễ hơn ở những trẻ có các dạng khuyết tật như rối loạn ngôn ngữ phát triển, chậm phát triển trí tuệ, RLPTK … mà nguyên nhân và các biểu hiện thường không rõ ràng ở giai đoạn phát triển sớm của trẻ.2 Tỷ lệ khuyết tật giao tiếp trên thế giới và tại Việt Nam Theo báo cáo về người khuyết tật trên thế giới (WHO, 2011) [62], khoảng 15% dân số thế giới sống dưới tình trạng mắc một dạng khuyết tật. Tuy nhiên báo cáo này cũng thừa nhận rằng rất nhiều người mắc KTGT và các khiếm khuyết khác không được bao gồm trong ước tính này mặc dù họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống hằng ngày.
Theo điều tra mới nhất năm 2016 của Tổng Cục thống kê Việt Nam, tỷ lệ người khuyết tật trong cộng đồng là 7,06% tương đương với khoảng 6,2 triệu người và trong số này có khoảng 836.247 người mắc các khuyết tật về giao tiếp [8]. Việc định lượng tỷ lệ người mắc KTGT nói chung và tỷ lệ trẻ em mắc KTGT tại Việt Nam nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính. sách có sự nhìn nhận đúng đắn về mức độ phổ biến của KTGT và tình hình cung cấp dịch vụ liên quan đến lĩnh vực này.
Từ đó xem xét đánh giá lại việc phân bổ các nguồn lực đã hợp lý chưa, cần bổ sung hay điều chỉnh gì thêm không. Đáng tiếc là cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có con số thống kê chính xác về tỷ lệ trẻ em mắc KTGT trong cộng đồng. Dù biết đây là một công việc hết sức khó khăn và tốn kém về mặt kinh tế tuy nhiên thiết nghĩ trong tương lai gần cần có sự quan tâm và hỗ trợ của nhà nước để có thể đưa ra một tỷ lệ tương đối về KTGT ở trẻ em tại Việt Nam.3 Các dấu hiệu nhận biết sớm trẻ mắc khuyết tật giao tiếp Theo tìm hiểu của chúng tôi, Việt Nam chưa có nghiên cứu lớn nào trên toàn dân số về các mốc phát triển giao tiếp bình thường ở trẻ, tất cả các số liệu đều tham chiếu từ các nghiên cứu nước ngoài mà chủ yếu là từ các quốc gia phương Tây sử dụng ngôn ngữ Anh. Việc xác định các mốc phát triển giao tiếp trên trẻ em sống tại Việt Nam vô cùng quan trọng bởi vì trẻ em ở mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng về di truyền, thể chất và môi trường văn hóa.
Do đó các mốc phát triển giao tiếp cũng sẽ có sự khác biệt. Việc lấy mốc phát triển giao tiếp trẻ em từ một quốc gia khác để áp dụng cho các nghiên cứu tại Việt Nam là điều không phù hợp nhưng trong hoàn cảnh này, chúng ta phải tạm chấp nhận sự thiếu sót. Hiệp hội Lời nói - Ngôn ngữ - Thính giác Hoa kỳ đã đưa ra các mốc phát triển giao tiếp ở trẻ em từ lúc sinh cho đến 5 tuổi [46]. Đây là một tài liệu quan trọng cho các bậc cha mẹ và các chuyên gia bệnh lý về ngôn ngữ có thể so sánh và đánh giá mức độ phát triển về giao tiếp của trẻ.
Bệnh viện nhi khoa Queensland và Dịch vụ y tế - Úc cũng đưa ra những dấu hiệu ở trẻ (dấu hiệu cờ đỏ) được xem là có nguy cơ mắc các rối loạn về cảm xúc, giao tiếp, nhận thức xã hội và vận động thô (Bảng 1. Đây là những thông tin quý giá giúp các bậc phụ huynh có thể so sánh đối chiếu với tình trạng phát triển giao tiếp của trẻ, từ đó nhận ra được các dấu hiệu bất thường về giao tiếp ở con mình.1: Hướng dẫn phát hiện dấu hiệu cờ đỏ sớm ở trẻ từ 0 - 5 tuổi (Nguồn: Children’s Health Queensland Hospital and Health Service) Cờ đỏ ở mọi lứa Vùng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 18 tháng 2 năm 3 năm 4 năm 5 năm tuổi 🚩Không cười hay 🚩Không chia sẻ 🚩Không để ý tới 🚩Thiếu sự thích thú 🚩Khi chơi đồ chơi 🚩Không hứng thú 🚩Không sẵn sàng 🚩Cách chơi khác tương tác với mọi niềm vui với người người mới khi chơi hoặc tương thường đập, làm rơi với trò chơi mô hoặc không thể với bạn cùng lứa người khác qua giao tiếp 🚩Không chơi tác với người khác hoặc ném chúng phỏng hoặc tương cùng chơi một cách 🚩Phụ huynh lo bằng mắt hoặc biểu những trò chơi luân thay vì sử dụng tác với trẻ khác hợp tác Cảm lắng mức độ cao cảm phiên cơ bản đúng mục đích 🚩 Gặp khó khăn xúc xã 🚩Thiếu nhiều kỹ (vd: trốn tìm, lăn (vd: ôm búp bê, xếp trong việc chú ý hội năng đáng kể bóng) chồng các khối) hoặc hiểu cảm xúc 🚩Thiếu sự phản chính bản thân và ứng với mô người khác phỏng âm thanh (vd: vui, buồn) và trực quan 🚩Không bắt đầu 🚩Không dùng cử 🚩Không bập bẹ 🚩Không nói sõi 🚩Không học từ 🚩Khó khăn trong 🚩Giao tiếp khó 🚩Khó khăn trong 🚩Tương tác kém bập bẹ nói (vd: chỉ những cụm nghe 🚩Không thể hiểu mới việc giao tiếp để hiểu việc chỉ ra lỗi sai với người lớn và aahh, oohh) (vd: chỉ, trình bày, giống nói chuyện yêu cầu ngắn 🚩Không ghép từ người quen có thể 🚩Không thể làm với phụ huynh trẻ khác vẫy tay) 🚩Không phản ứng (vd: “Quả bóng ở với nhau hiểu theo chỉ dẫn có hai 🚩Không thể trả lời 🚩Thiếu hoặc hạn Giao 🚩Không bập bẹ từ với những từ quen đâu?”) (vd: “đẩy xe”) 🚩Không sử dụng bước câu hỏi trong cuộc chế giao tiếp ánh tiếp phức thuộc (vd: chai, bố) câu đơn (vd: “Cất túi và đi hội thoại đơn giản mắt (vd: bubu, dada) (vd: “Xe to đi đi” chơi”) (vd: “Tên con là gì? 🚩Bên phải và Gia đình con là ai? bên trái của cơ Con thích xem gì thể có sức mạnh, trên TV?”) cử động hoặc. 6 🚩Không với hoặc 🚩Không cầm giữ 🚩Không tự ăn thức 🚩Không vẽ nguệch 🚩Không thử tự ăn 🚩Không thử tự làm 🚩Không đào tạo đi 🚩Giáo viên lo lắng trương lực cơ cầm nắm đồ chơi đồ vật ăn nhẹ bằng tay ngoạc với bút màu bằng thìa và/hoặc hoạt động chăm sóc vệ sinh được theo về sự sẵn sàng đi khác nhau Nhận 🚩 Tay thường 🚩Không “đưa” đồ hoặc cầm giữ 🚩Không thử xếp giúp mặc quần áo bản thân ngày học 🚩Bị đánh giá là thức, xuyên nắm chặt vật khi được yêu chai/cốc chồng các khối sau (vd: ăn, mặc) 🚩Không thể vẽ các 🚩Không thể tự trương lực cơ vận 🚩Không khám phá cầu 🚩Không thể nhặt khi được minh họa 🚩Khó kiểm soát đồ nét hoặc đường tròn hoàn thành công thấp (lỏng lẻo) động đồ vật bằng tay, mắt 🚩Không thể những vật nhỏ sử vật nhỏ (vd: chuỗi việc hằng ngày như hoặc cao (cứng tinh và và miệng chuyền đồ vật từ dụng ngón trõ và hạt) ăn, mặc hoặc căng) và tác chăm 🚩 Không chắp tay tay này sang tay ngón cái 🚩Không thể vẽ động đáng kể sóc bản vào giữa khác tranh cơ bản đến sự phát triển thân (vd: người que) và các kỹ năng vận động chức năng 🚩Không kiểm soát 🚩Không lăn 🚩Không có sự di 🚩Không tự đứng 🚩Không thể tự đi 🚩Không thể tự lên 🚩Không thể tự tin 🚩Không thể tự tin được việc ngẩng 🚩Không tự ngồi chuyển độc lập một mình một mình xuống cầu thang đi, chạy, leo trèo, đi, chạy, leo trèo, đầu và vai lên khi độc lập/không (vd: bò, trườn, 🚩Không thử tự đi 🚩Không thể tự một mình nhảy và sử dụng nhảy và sử dụng nằm sấp được giúp đỡ trườn bằng phần nếu không được bám và đi lên 🚩Không thể chạy cầu thang cầu thang Vận 🚩Không giữ được 🚩Không cử động dưới) giúp xuống cầu thang hoặc nhảy 🚩Không thể bắt, 🚩Không thể nhảy động đầu có kiểm soát (vd: leo, bò) 🚩Không kéo để tự ném hoặc đá bóng lò cò năm lần và thô khi được giúp ngồi 🚩Không đặt sức đứng dậy và bám đứng một chân xuống nặng ở chân khi để có thêm sự hỗ trong năm giây được giữ ở tư thế trợ đứng. Tuy nhiên họ cũng khuyến cáo rằng xuất hiện một trong các dấu hiệu này không có nghĩa là trẻ có vấn đề.
Nếu không chắc chắn về tình trạng con mình, cha mẹ có thể đưa con đến các chuyên gia bệnh lý ngôn ngữ và lời nói để được thăm khám và chẩn đoán chính xác. Những dấu hiệu này thường xuất hiện trong các hoạt động hằng ngày của trẻ như vui chơi, ăn uống, học tập. Cha mẹ là những người gần gũi và có nhiều thời gian ở bên trẻ nhất nên nếu có sự quan tâm cùng với một chút hiểu biết sẽ nhận ra được những biểu hiện bất thường ở con. Họ có thể đem những nghi vấn này trao đổi với cha mẹ khác, hoặc tham vấn những bác sĩ chuyên về nhi khoa để nhận được những lời khuyên hữu ích cho con mình.4 Khung phân loại quốc tế về hoạt động chức năng, khuyết tật và sức khỏe và khuyết tật giao tiếp ở trẻ em Để đánh giá một cách toàn diện ảnh hưởng tình trạng khuyết tật lên một cá nhân, hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng khung phân loại quốc tế về hoạt động chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF).
ICF được phát triển vào năm 2001 bởi Tổ chức y tế thế giới. Đây là một mô hình dùng để mô tả các thông tin về sức khỏe, hoạt động chức năng và khuyết tật [59]. Mô hình này ngụ ý sự tương tác giữa các điều kiện tạo nên sức khỏe như cấu trúc và chức năng cơ thể, hoạt động và sự tham gia.