MỞ ĐẦU Hiện nay, nhiễm khuẩn do trực khuẩn Gram âm kháng thuốc nói chung và Pseudomonas aeruginosa (P.aeruginosa) nói riêng là vấn đề rất được quan tâm của ngành y tế trong nước cũng như trên thế giới.aeruginosa hiếm khi gây nhiễm khuẩn ở những người khỏe mạnh nhưng thường gặp ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bỏng, hoặc xơ nang phổi. Chúng gây nhiều loại nhiễm khuẩn khác nhau trong đó viêm phổi là bệnh lý thường gặp nhất trên lâm sàng. Theo nghiên cứu của National Healthcare Safety Network của Mỹ năm 2008 [61] cho thấy, viêm phổi thở máy do P.aeruginosa chiếm tỉ lệ nhiều nhất (16,3%), kế đến là nhiễm khuẩn đường tiết niệu (10%), nhiễm khuẩn vị trí vết mổ (10%) và nhiễm khuẩn máu (3,1)%. Tương tự, một nghiên cứu khác của Châu Âu [58], viêm phổi chiếm tỉ lệ cũng cao nhất (30%), nhiễm khuẩn đường tiểu (19%), nhiễm khuẩn máu (10%).aeruginosa còn được biết đến là vi khuẩn đề kháng với nhiều loại kháng sinh.
Do chúng có nhiều cơ chế đề kháng tự nhiên và khả năng nhận gen mã hóa kháng đa kháng sinh nên rất dễ dàng phát triển kháng thuốc trong suốt quá trình điều trị. Ciprofloxacin thuộc nhóm quinolone, ngăn quá trình sao chép của vi khuẩn bằng cách ức chế men DNA gyrase. Trong khi đó, ceftazidime, meropenem, imipenem là kháng sinh thuộc nhóm β – lactam, ức chế quá trình tổng hợp vách tế bào vi khuẩn và được xem là những kháng sinh hàng đầu lựa chọn để điều trị nhiễm khuẩn nặng như viêm phổi [7]. Tuy nhiên, tình trạng P.aeruginosa gia tăng đề kháng với những kháng sinh này đã được ghi nhận ở nhiều nơi.
Cụ thể, dữ liệu thống kê từ năm 2001 đến năm 2008 của nhóm tác giả K. Milne ở Scottland [38], tỉ lệ P.aeruginosa đề kháng với ciprofloxacin (25%), ceftazidime (71%), meropenem (59%), imipenem (82%). Tại Thái Lan, nghiên cứu của nhóm tác giả Piyatip Khuntayaporn [39] từ năm 2007 đến năm 2009, P.aeruginosa kháng ciprofloxacin (92,34%), ceftazidime (95,79%), meropenem (65,52%), imipenem (44,44 %). Còn tại Việt 2 Nam, khảo sát của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh [4] từ năm 2009 đến năm 2010, tỉ lệ đề kháng ciprofloxacin (52,2%), ceftazidime (26,4%), imipenem (50 %).
Do vậy, giải pháp phối hợp ciprofloxacin với ceftazidime, meropenem hoặc imipenem là một lựa chọn thích hợp để đạt được hiệu quả tốt hơn trong điều trị. Trên thế giới có một vài nghiên cứu in vitro khẳng định tác dụng hiệp đồng của những phối hợp trên [24, 30, 21, 52, 22, 38, 12]. Tại Việt Nam, nghiên cứu về hiệu quả phối hợp kháng sinh trong điều kiện in vitro vẫn chưa được thực hiện và phác đồ kháng sinh lựa chọn ban đầu thường dựa kinh nghiệm. Xuất phát từ tình hình này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Khảo sát hiệu quả phối hợp ciprofloxacin với ceftazidime, meropenem hoặc imipenem và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa ở điều kiện in vitro”, với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Khảo sát sự đề kháng kháng sinh và hiệu quả in vitro của phối hợp ciprofloxacin với ceftazidime, meropenem hoặc imipenem ở P.
Mục tiêu chuyên biệt: 1. Xác định tỉ lệ đề kháng kháng sinh ciprofloxacin, ceftazidime, meropenem, imipenem đối với các chủng P.aeruginosa phân lập được. Khảo sát tác dụng hiệp đồng của ciprofloxacin – ceftazidime, ciprofloxacin – meropenem, ciprofloxacin – imipenem ở những chủng P.aeruginosa cùng kháng với cả hai loại kháng sinh. Khảo sát tác dụng hiệp đồng của ciprofloxacin – ceftazidime, ciprofloxacin – meropenem, ciprofloxacin – imipenem ở những chủng P.aeruginosa kháng với ciprofloxacin nhưng nhạy với ceftazidime, meropenem hay imipenem.
Tìm hiểu sự thay đổi giá trị MIC (Minimal Inhibitory Concentration) của từng loại kháng sinh khi phối hợp. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Kháng sinh và sự đề kháng của vi khuẩn 2. Khái niệm, phân loại, cơ chế tác động của kháng sinh 2.
Khái niệm Kháng sinh là những chất có tác động chống lại sự sống của vi khuẩn, ngăn vi khuẩn nhân lên bằng cách tác động ở mức phân tử, hoặc tác động vào một hay nhiều giai đoạn chuyển hóa cần thiết của đời sống vi khuẩn hoặc tác động vào sự cân bằng lý hóa. Kháng sinh có tác động đặc hiệu nghĩa là một loại kháng sinh sẽ tác động lên một vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn nhất định. Do vậy, kháng sinh không có cùng một hoạt tính như nhau đối với tất cả các loại vi khuẩn. Một số kháng sinh có hoạt phổ rộng, tức là chúng có hoạt tính đối với nhiều loại vi khuẩn khác nhau, một số có hoạt phổ hẹp chỉ có hoạt tính đối với một hoặc một số ít loại vi khuẩn.
Kháng sinh có nhiều nguồn gốc khác nhau, tổng hợp bằng phương pháp hóa học, ly trích từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật [2]. Phân loại Có nhiều cách phân loại kháng sinh tùy theo mục đích nghiên cứu và cách sử dụng thuốc: dựa vào mức độ tác dụng, phổ tác dụng kháng sinh, nguồn gốc, cơ chế tác dụng. Một số nhóm kháng sinh thông dụng: β – lactam, quinolone, aminosid, phenicol, tetracyclin, macrolid, lincosamid.1: Một số kháng sinh thông dụng [7] Nhóm kháng Phân nhóm Phân loại Một số kháng sinh thông sinh dụng benzyl penicillin penicillin phổ hẹp phenoxymethyl penicillin penicillin penicillin phổ rất nafcillin, oxacillin, cloxacillin hẹp penicillin phổ ampicillin, amoxicillin rộng cefadroxil, cephalexin, β – lactam Thế hệ 1 cefalothin cefaclor, cefamandol, Thế hệ 2 cefuroxim cephalosporin ceftriaxone, ceftazidime, Thế hệ 3 cefoperazon cefepime Thế hệ 4 imipenem, meropenem, carbapenem ertapenem, doripenem Thế hệ 1 acid nalidixic, cinoxacin Thế hệ 2 norfloxacin, ciprofloxacin quinolone Thế hệ 3 levofloxacin, sparfloxacin Thế hệ 4 trovafloxacin, moxifloxacin aminosid gentamycin, kanamycin, phenicol chloramphenicol, tetracyclin tetracyclin, doxycyclin macrolid erythromycin, azithromycin lincosamid lincomycin, clindamycin 5 2. Cơ chế tác động của kháng sinh Có 4 cơ chế tác động chủ yếu của kháng sinh trên tế bào vi khuẩn: • Ức chế sự thành lập vách tế bào vi khuẩn Những thuốc ức chế sự thành lập vách tế bào vi khuẩn bao gồm: penicillin, cephalosporin, vancomycin, cycloserine, bacitracin, teicoplanin, ristocetin, và novobiocin.
Vách tế bào vi khuẩn rất cứng nằm bên ngoài màng gồm các sợi peptidoglycan đan vào nhau nhờ liên kết pentapeptide. Chúng duy trì hình dạng và kích thước vi khuẩn trước áp lực thẩm thấu cao bên trong tế bào. Tổn thương vách hoặc ức chế sự thành lập vách đều dẫn đến phá hủy tế bào. Ở vi khuẩn Gram dương có nhiều lớp peptidoglycan nên vách dày, vi khuẩn Gram âm có một lớp peptidoglycan nên vách mỏng hơn.
Ngoài ra, vách tế bào vi khuẩn còn có một hợp chất đặc biệt là acid teichoic. Hợp chất này thấy nhiều ở vi khuẩn Gram dương (chiếm 50% trọng lượng khô của vách) còn ở vi khuẩn Gram âm không có. Tất cả các loại thuốc pencillin và cephalosporin đều ức chế sự thành lập vách tế bào. Đầu tiên thuốc gắn với các thụ thể penicillin binding protein (PBP) của tế bào.
Có 3 đến 6 thụ thể PBP, trong đó có một vài thụ thể là men transpeptidase. Sau khi thuốc gắn vào một hay nhiều thụ thể, thuốc phong bế men transpeptidase, làm ức chế quá trình tổng hợp peptidoglycan. Giai đoạn tiếp theo liên quan đến hoạt hóa men tự tiêu làm ly giải tế bào ở môi trường đẳng trương. Trong môi trường ưu trương, tế bào chỉ được bao bọc bởi một lớp màng mỏng, các vi khuẩn Gram dương biến thành dạng hình cầu không có vách hoặc vi khuẩn Gram âm có vách không hoàn chỉnh.
Trong khi đó, sự tổng hợp protein và acid nucleic có thể vẫn tiếp tục diễn ra và tế bào dễ dàng bị vỡ [2, 32]. • Ức chế chức năng màng tế bào Những thuốc ức chế chức năng màng tế bào gồm: amphotericin B, colistin, imidazole, triazole, polymyxin. Tế bào chất của những tế bào sống được bao bọc bởi màng sinh chất. Màng này được xem như hàng rào sinh học, bao bọc, tách biệt bản thân nó với môi trường xung quanh.
Đồng thời chúng cho phép thấm chọn lọc, vận chuyển chủ động và 6 kiểm soát những thành phần bên trong tế bào. Kháng sinh tác động lên màng tế bào phải có cấu trúc lưỡng cực (một đầu ưa nước, một đầu kỵ nước) dễ dàng chen vào cấu trúc phospholipid kép của màng làm cho những đại phân tử, ion thoát khỏi tế bào và hậu quả vi khuẩn tan ra. Polymycin ức chế chức năng màng tế bào nhờ vào đặc điểm cấu trúc như trên, phá hủy phosphatidylethanolamine, một thành phần chính của màng tế bào [2, 32]. • Ức chế sự tổng hợp protein Bao gồm những thuốc sau: erythromycin, lincomycin, tetracyclin, aminoglycoside, chloramphenicol.
Vi khuẩn tổng hợp protein thông qua quá trình dịch mã trên mRNA, riboxom. Có bốn nhóm kháng sinh có cơ chế tác động ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn. Aminoglycoside Trong nhóm aminoglycoside, streptomycin được nghiên cứu chi tiết hơn nhưng nhìn chung có cùng cơ chế tác động. Trong quá trình dịch mã, giai đoạn đầu aminoglycoside gắn vào thụ thể chuyên biệt trên tiểu đơn vị 30S của ribosom.
Giai đoạn hai thuốc phong bế hoạt tính phức hợp đầu tiên (mRNA + formyl methionine + tRNA). Giai đoạn ba, thông tin di truyền trên mRNA bị đọc sai ở vùng nhận diện của ribosom dẫn đến một amino acid không phù hợp chèn vào chuỗi polypeptide tạo ra protein không có chức năng. Giai đoạn bốn, thuốc làm polysome vỡ thành các monosome và quá trình tổng hợp protein không xảy ra. Những kiểu tác động này xảy ra ít hay nhiều có tính đồng thời, cuối cùng tế bào bị tan ra [2, 32].
Tetracycline Tetracycline gắn vào tiểu đơn vị 30S của riboxome. Chúng ức chế quá trình tổng hợp protein bằng cách ngăn chặn tRNA mang amino acid mới gắn vào chuỗi polypeptide [2, 32]. Chloramphenicol Thuốc gắn vào tiểu đơn vị 50S của riboxom, ức chế hoạt động của men peptidyl transferase, ngăn amino acid mới gắn vào chuỗi polypeptide [2, 32]. 7 Macrolide Bao gồm: erythromycin, azithromycin, clarithromycin, roxithromycin, ketolide, telithromycin.
Chúng gắn vào tiểu đơn vị 50S của riboxom ở vị trí 23 rRNA, ngăn chặn hình thành phức hợp đầu tiên để tổng hợp chuỗi polypeptide [2, 32]. Lincomycin Thuốc gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosom và tương tự như nhóm macrolide ở vị trí gắn, tác động kháng khuẩn, kiểu tác động [2,32]. • Ức chế sự tổng hợp acid nucleic Gồm những kháng sinh sau: quinolone, pyrimethamine, rifampin, sulfonamide, trimethoprim và trimetrexate. Những thuốc như rifampin là những chất ức chế quá trình tổng hợp DNA bằng cách gắn vào phân tử DNA tạo phức hợp, phức hợp này ức chế các RNA polymerase tổng hợp các RNA tương ứng.
Tất cả các quinolone ức chế việc tổng hợp DNA bằng cách phong bế men DNA gyrase, không cho men DNA gyrase tháo xoắn phân tử DNA. Đối với nhiều loại vi khuẩn, para – aminobenzoic acid (PABA) là một chất biến dưỡng cần thiết cho sự phát triển. Chúng được dùng như một tiền chất để tổng hợp acid folic, từ đó tổng hợp base purine là thành phần của acid nucleic.