Đặt vấn đề Từ xưa tới nay, trong hoạt động giao tiếp của con người, luôn luôn tồn tại những rào cản, mà một trong số các rào cản đó là ngôn ngữ. Đó là những khó khăn về ngôn ngữ gặp phải trong giao tiếp giữa những cá nhân thuộc các sắc tộc, tôn giáo, các miền địa lý, văn hóa, xã hội và nghề nghiệp chuyên môn khác nhau. Vì xã hội loài người phát triển không ngừng nên ngôn ngữ cũng liên tục phát triển để kịp thời phản ánh được thực tiễn cuộc sống. Ngày nay, những cách thể hiện hoàn toàn mới về nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống đã xuất hiện trong mối liên quan mật thiết với các chuyên ngành máy tính, dự báo, quảng cáo thương mại, âm nhạc phổ thông,.
Trải qua nhiều thế kỷ, những phong cách chuyên biệt đã được phát triển phù hợp với các lĩnh vực như tôn giáo, luật pháp, thể chế chính trị, thương mại, báo chí, y học và khoa học. Ngôn ngữ thực sự giúp cho việc đáp ứng các nhu cầu chuyên môn trong các xã hội phát triển, và hoàn thiện những lĩnh vực mới nảy sinh trong khi con người dần dần quen với các từ ngữ được tạo ra. Xét về tiêu chí mục đích và phạm vi sử dụng, có thể phân chia ngôn ngữ thành: ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ chuyên dụng. Ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ chuyên dụng đều nằm trong hệ thống ngôn ngữ chung, ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ mẹ đẻ.
Chúng giống nhau ở chỗ là đều tuân thủ các nguyên tắc chung của ngôn ngữ về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, nhưng mỗi loại có những đặc điểm riêng. Các đặc điểm đó được thể hiện khác nhau phụ thuộc vào sự khác nhau về phạm vi, mục đích sử dụng ngôn ngữ. Nếu như, ngôn ngữ toàn dân được đại đa số nhân dân trong một quốc gia sử dụng trong cuộc sống hàng ngày để giao tiếp, thì ngôn ngữ chuyên dụng có số lượng người sử dụng hạn chế hơn rất nhiều, tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của từng cá nhân, từng nhóm người. Thông thường, mỗi cá nhân phải nắm vững ngôn ngữ toàn dân trước khi tiếp cận với ngôn ngữ chuyên dụng.
Nhu cầu tiếp cận với ngôn ngữ chuyên dụng chỉ thực sự xuất hiện khi một cá nhân tham gia vào các hoạt động trong xã hội. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc trưng của ngôn ngữ toàn dân được thể hiện rõ trong định nghĩa sau: "Ngôn ngữ toàn dân được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, không bị hạn chế bởi phong cách và phạm vi sử dụng; ngôn ngữ được mọi người trong quốc gia biết, chấp nhận và sử dụng. 171] Khác với ngôn ngữ toàn dân (được sử dụng rộng rãi, "không bị hạn chế về phong cách và phạm vi sử dụng", lại dễ phổ biến và dễ dùng), ngôn ngữ chuyên dụng là ngôn ngữ được sử dụng trong từng lĩnh vực chuyên biệt với những mục đích cụ thể không giống nhau, có kèm thêm các yếu tố nhân tạo (ký hiệu, công thức,. ) và được xác định bằng nội dung giao tiếp dưới dạng văn bản hay lời nói, phục vụ cho những mục đích xác định (công việc, nghiên cứu, học tập,.
Định nghĩa dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm về bản chất và chức năng của ngôn ngữ chuyên dụng: "Ngôn ngữ chuyên dụng là ngôn ngữ được sử dụng với những mục đích cụ thể khác nhau: dùng trong công việc hàng ngày, dùng cho mục đích nghiên cứu, học tập, dùng để thể hiện những ý tưởng nghệ thuật,. Nó là một bộ phận của ngôn ngữ chung nhưng không phải là ngôn ngữ toàn dân vì nó có chứa đựng những nội dung chuyên môn mà không phải tất cả mọi người đều hiểu.16] Rõ ràng, ngôn ngữ chuyên dụng không phải là một dạng đặc biệt của ngôn ngữ mà là ngôn ngữ chuyên dùng cho một ngành chuyên môn, hay một nghề nghiệp nhất định nào đó trong xã hội loài người, ví dụ: ngành giáo dục đào tạo, ngành khoa học vật liệu, ngành chế biến thực phẩm, ngành cơ khí chế tạo máy, ngành thủ công mỹ nghệ, ngành sản xuất nông nghiệp, ngành nuôi trồng, khai thác và đánh bắt thuỷ hải sản, ngành bưu chính viễn thông,v. Ngôn ngữ chuyên dụng có tính độc lập thể hiện ở chỗ nó là một hệ thống mở thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện và có liên quan tương hỗ với ngôn ngữ toàn dân. Nó có thể mượn các yếu tố của ngôn ngữ toàn dân để tạo ra các từ ngữ mới và ngược lại có thể làm giàu cho ngôn ngữ toàn dân bằng những yếu tố của nó (trường hợp thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường và thông thường hoá thuật ngữ).
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam khái niệm ngôn ngữ chuyên dụng chưa được nghiên cứu và xem xét một cách thật thấu đáo, nhưng thỉnh thoảng vẫn gặp chúng ở các sách chuyên môn, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành, và chúng vẫn là vấn đề còn để mở. Cần phải nói thêm rằng, chúng tôi dùng thuật ngữ "ngôn ngữ chuyên dụng" nhằm nhấn mạnh vào tính mục đích của việc sử dụng ngôn ngữ trong thể hiện tư duy, trong thực hiện những nhiệm vụ cụ thể, trong giao tiếp khoa học,. của xã hội loài người. Cùng khái niệm này có một số tác giả Việt Nam đã dùng thuật ngữ "ngôn ngữ chuyên ngành" cụm từ "chuyên ngành" theo chúng tôi thì có nghĩa hẹp hơn "chuyên dụng" và dễ làm chúng ta liên tưởng tới một ngành khoa học, kỹ thuật cụ thể nào đó.
Tuỳ thuộc vào những mục đích phục vụ khác nhau, trong ngôn ngữ chuyên dụng có sự phân biệt giữa các khái niệm: ngôn ngữ nghề nghiệp, ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ nghệ thuật. - Ngôn ngữ nghề nghiệp phục vụ cho công việc hàng ngày giữa những người cùng ngành nghề chuyên môn, cùng nghề nghiệp dùng để giao tiếp với nhau khi cần trao đổi những thông tin mang tính chuyên môn, nghề nghiệp. Ngôn ngữ nghề nghiệp là "ngôn ngữ trong các lĩnh vực chuyên sâu của giao tiếp được xác định theo loại hình công việc ngoài ngôn ngữ của con người,. ngôn ngữ nghề nghiệp được cá nhân học theo loại hình công việc, là tiếng mẹ đẻ và là cả ngoại ngữ trong mối quan hệ rất chặt chẽ.
366] - Ngôn ngữ khoa học phục vụ cho quá trình nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ của con người để duy trì cuộc sống và phát triển xã hội. "Trong đó có vấn đề thuật ngữ, từ vựng khoa học chung, mối tương quan giữa ngôn ngữ và phong cách trình bày khoa học. 369] - Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ được hình tượng hóa ở mức cao nhằm phản ánh mọi khía cạnh đời sống của con người dưới các hình thức văn học, nghệ thuật khác nhau. "Ngôn ngữ nghệ thuật tức ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên).
Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ (tức đặc trưng ngữ nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng. 18] Có thể hình dung ra bức tranh ngôn ngữ với cách phân loại như trên bằng sơ đồ dưới đây NGÔN NGỮ NGÔN NGỮ TOÀN DÂN NGÔN NGỮ CHUYÊN DỤNG NGÔN NGỮ NGÔN NGỮ NGÔN NGỮ NGHỀ NGHIỆP KHOA HỌC NGHỆ THUẬT Sơ đồ 1. Phân loại ngôn ngữ theo mục đích và phạm vi sử dụng Trên thế giới, khái niệm ngôn ngữ chuyên dụng, ngôn ngữ nghề nghiệp, ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ văn học nghệ thuật, đã được nhiều nhà ngôn ngữ học như: IU. Phêđôrôv, Tom Hutchinson, Alan Waters,.
quan tâm đến. Trong luận án, đối tượng chính được đề cập đến là các thuật ngữ tin học - viễn thông thuộc phạm vi các thuật ngữ khoa học, một bộ phận chính của ngôn ngữ khoa học, nên ở phần tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả kỹ lưỡng hơn về ngôn ngữ khoa học. Vị trí quan trọng của ngôn ngữ khoa học trong hệ thống ngôn ngữ. Có thể thấy rằng, chức năng của ngôn ngữ được hiện thực hóa trong cách sử dụng ngôn ngữ ở các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.
Mục đích của khoa học là xác định các nguyên lý chế ngự vũ trụ. Tiến tới mục đích này là đồng nghĩa với việc tiến tới mở rộng sử dụng ngôn ngữ. Các kiến thức cơ bản về một chuyên ngành khoa học bất kỳ chỉ có thể được tiếp cận và phát triển nếu các thế hệ của các nhà khoa học đi trước thành công trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc thể hiện các thành tựu khoa học của họ (phát minh, khám phá,.) một cách chính xác, tường minh bằng một ngôn ngữ nhất định. Cũng như vậy, các nhà khoa học ngày nay, với mong muốn đóng góp những thành quả riêng của mình vào tri thức khoa học chung của toàn nhân loại, bắt buộc phải thoả mãn các yêu cầu, nghiêm luật của ngôn ngữ để tác phẩm, công trình của họ được hiểu một cách chính xác và được chấp nhận bởi các đồng nghiệp của mình.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học với những đòi hỏi của nó về đối tượng, mục đích, việc điều tra, khảo sát có hệ thống, sự đo lường chuẩn xác,. đều có kết quả quan trọng của sự thể hiện bằng ngôn ngữ. Ở đây có sự liên quan đặc biệt đến các tuyên bố chung, việc giải thích, chứng minh lôgic một vấn đề lý thuyết, và sự mô tả chính xác bằng lời một sự vật, hiện tượng khoa học. Lối bình luận cảm tính, sắc thái hài hước, lối mô tả tượng hình và nhiều đặc điểm khác của ngôn ngữ thông thường đều được tránh sử dụng.
Ngôn ngữ khoa học có những đặc trưng về từ vựng và ngữ pháp, những đặc điểm tiêu biểu tạo nên sắc thái riêng cho ngôn ngữ khoa học và phân biệt nó với ngôn ngữ nghề nghiệp và ngôn ngữ nghệ thuật. Chức năng của ngôn ngữ khoa học là thông báo, chứng minh tính quy luật đã được phát hiện ra bằng tư duy khoa học, loại tư duy mang tính khái quát, trừu tượng và được diễn đạt bằng những phán đoán, suy lý chính xác, lôgic. Chính vì vậy mà muốn thực hiện được chức năng của mình, ngôn ngữ khoa học cần có những đặc trưng chung: tính trừu tượng, khái quát cao; tính lôgic nghiêm ngặt và tính khách quan. Tính trừu tượng, khái quát cao Khoa học phải thông qua khái quát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan.