Chương 1 đã trình bày khái quát về vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái ở khu vực Lai Châu. Từ đó có thể khẳng định rằng, dưới góc độ tự nhiên đây là khu vực có điều kiện thuận lợi cho sự định cư lâu dài của cư dân thời tiền sử. Sau hơn 30 năm phát hiện và nghiên cứu, đặc biệt là từ năm 2008 đến nay với việc triển khai dự án khai quật, di dời và xử lý các di tích khảo cổ học thuộc lòng hồ thủy điện Sơn La đã mở ra một giai đoạn mới về nghiên cứu khảo cổ học tiền sử miền Tây Bắc. Những kết quả khai quật, nghiên cứu về di tích di vật ở di chỉ Huổi Ca và 30 địa điểm khác trong lòng hồ thủy điện Sơn La đã thu được nhiều tư liệu quan trọng góp phần phác thảo những nét chung nhất về thời tiền sử khu vực này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2 DI CHỈ HUỔI CA 2. Về di chỉ, quá trình phát hiện và khai quật Di chỉ Huổi Ca, thuộc bản Huổi Ca (cũ), xã Nậm Mạ, huyện Sìn Hồ (Lai Châu), có tọa độ 22009’347’’ vĩ Bắc, 103022’537’’ kinh Đông, rộng trên 1.000m2 cao trung bình 25m so với mặt nước sông Đà mùa tháng Ba. Di chỉ Huổi Ca nằm trên một quả đồi rộng, phía nam nhô sát bờ trái sông Đà, nằm kẹp giữa hai con suối: Nậm Mạ ở phía đông và suối Huổi ở phía tây. Nậm Mạ là một dòng suối lớn, thực chất là một con sông nhỏ chảy theo hướng bắc nam quanh năm đổ nước ra sông Đà, còn suối Huổi hiện tại là một dòng suối cạn.
Cùng với Huổi Ca trong khu vực này còn có một loạt các địa điểm khảo cổ tiền sử khác phân bố ở thềm bậc hai thuộc bờ trái sông Đà như: Co Đớ, Nậm Mạ, Nậm Dôn, Hát Đấu, riêng địa điểm Nậm Cha nằm sâu bên bờ suối Nậm Mạ. Một số địa điểm khác đều nằm ở cửa suối, ven sông dọc sông Đà như: Nậm Dôn, Hát Đấu, Huổi Ca, Nậm Mạ và Co Đớ (BĐ 8). Nếu lấy di chỉ Huổi Ca làm trung tâm, thì các di tích xung quanh gồm có Nậm Dôn cách 4,4km về phía tây, Hát Đấu cách 3,2km về phía tây, Nậm Mạ cách 500m về phía đông bắc, Co Đớ cách 1,0km về phía đông và Nậm Cha cách 6,7km về phía đông bắc. Có thể nói di chỉ Huổi Ca là trung tâm của nhóm các di tích kể trên.
Nếu quan sát trên bản đồ địa hình hay không ảnh có thể dễ dàng nhận thấy dải đồi nơi có di chỉ Huổi Ca nhô hẳn ra sông Đà so với các dải đồi khác cùng khu vực. Dòng sông Đà và suối Nậm Mạ là nguồn cung cấp nước ngọt, thức ăn và nguyên liệu đá cuội dồi dào cho cư dân tiền sử nơi đây. Nhìn chung, địa thế và môi sinh ở khu vực Huổi Ca rất thuận lợi cho việc cư trú và sinh hoạt của cư dân các thời đại. Điều đó lý giải tại sao có nhiều di tích thời đại đá và nhiều bản làng thời hiện đại định cư lâu dài ở khu vực này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tiếng địa phương, Huổi Ca có nghĩa là vùng đất mà mặt trời không bao giờ lặn.
Thực tế vì có vị trí khá đặc biệt nên không gian phía đông nam và tây nam của Huổi Ca thoáng rộng và tràn đầy ánh sáng. Từ Huổi Ca nhìn về phía đông hướng di chỉ Co Đớ dọc mép nước sông Đà là một bãi cuội trải dài hàng cây số, đây chính là nguồn cuội nguyên liệu để cư dân tiền sử nơi đây dùng để chế tác công cụ đá. Bản Huổi Ca của người Thái được thiết lập năm 1986 do dân ở bản Nậm Mạ chuyển cư sang. Hiện tại tất cả các bản thuộc xã Nậm Mạ, trong đó có bản Huổi Ca, Co Đớ, Nậm Mạ đều đã di chuyển lên bản mới thuộc khu tái định cư cách đây khoảng 3km về phía đông để giải phóng mặt bằng cho lòng hồ thủy điện sông Đà.
Di tích được tìm thấy trên sườn đồi thuộc thềm cổ bậc 2 của sông Đà. Di tích phân bố trên sườn đồi xuôi về phía sông Đà theo hướng nam, phía bắc là núi cao, độ dốc sườn núi khoảng 35 – 40o. Diện phân bố dày đặc của di vật đá nằm trong khoảng kẹp giữa hai con suối dài khoảng hơn 100m và rộng khoảng 80m. Khu vực có nhiều di vật đá nằm trong tầng đất được lộ ra trong vách địa tầng do san nền nhà (BV 1; BA 3 - 4).
Nhiều di vật đá lăn xuống sát mép nước và kẹt lại trong các hốc đá phía dưới. Trong quá trình khai quật chúng tôi đã thu nhặt được một số hiện vật đá nằm rải rác ở triền dốc đổ xuống suối. Năm 1998, Viện Khảo cổ học triển khai Chương trình khảo sát khả thi các di tích khảo cổ lòng hồ thủy điện Sơn la tuyến Lai Châu (đợt II) đã phát hiện di chỉ Huổi Ca. Tại đây đoàn điều tra đã thu thập được 103 di vật, chủ yếu là đồ đá.
Căn cứ vào sưu tập hiện vật phát hiện trên mặt những người phát hiện đã xếp Huổi Ca vào văn hóa Sơn Vi [60, tr. Năm 2007, di chỉ Huổi Ca được Viện Khảo cổ học phúc tra nhằm phục vụ cho việc triển khai dự án khai quật di dời [65, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đầu năm 2010, Viện Khảo cổ học và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lai Châu tiến hành khai quật di chỉ này với diện tích 72m2, hố 1 rộng 40m2, hố 2 là 32m2 [31, tr. Cả hai hố khai quật đều được mở ngay trên sườn đồi, nơi đã được người dân bản Huổi Ca trước đây san ra tạo mặt bằng làm nhà.
Đây là mặt bằng bên dưới có vách taluy, nơi phát hiện tầng chứa công cụ đá năm 1998 (BV 2; BA 4-5). Hố H1 mở theo chiều dọc của sườn núi nhìn về phía sông Đà là hướng Bắc chếch Đông 15o. Hố H2 mở theo chiều ngang của sườn núi, vuông góc và cách hố H1 8m về phía Tây. Cấu tạo địa tầng và tầng văn hóa Địa tầng di chỉ Huổi Ca dày 1,5m, được chia thành 5 lớp thứ tự từ trên xuống như sau (BV 2, h1 ; BA 6,14).
- Lớp mặt: dày 0,1 – 0,2m, là đất bồi tôn nền nhà màu nâu vàng không đều nhau, thành phần là đất phù sa cổ lẫn với đất dạng feralite phong hóa từ đá phiến. Lớp này có lẫn một số công cụ đá và mảnh tước. - Lớp 1: dày 0,2 – 0,3m, thành phần là đất phù sa cổ lẫn với đất dạng feralite phong hóa từ đá phiến. Trong lớp này có chứa công cụ đá và ít mảnh gốm thô dày.
- Lớp 2: dày 0,3 – 0,4m, là đất nguyên thổ màu nâu, độ rắn và kết dính cao hơn lớp 1. Đây là loại đất dạng feralite phong hóa từ đá phiến có lẫn với sét dạng phù sa cổ. Trong lớp này có một số tảng cuội lớn và di vật. - Lớp 3: dày 0,4 – 0,5m, đất tương tự lớp trên nhưng có màu nâu sáng hơn, thành phần giàu sét, mịn và chắc hơn.
Trong lớp này chứa những cụm đá tập trung với nhiều cuội tảng, công cụ đá, mảnh gốm và phế liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lớp 4: dày 0,2m, đất cơ bản giống lớp trên nhưng mịn và dính hơn. Trong lớp này chứa phần còn lại của một số cụm đá tập trung, công cụ đá và ít mảnh gốm. - Sinh thổ là lớp đất mịn màu vàng nhạt, bề mặt sinh thổ dốc thoải nghiêng theo địa hình.
Tầng văn hóa của di chỉ Huổi Ca có độ dày tương ứng với địa tầng và nghiêng theo hướng từ bắc xuống nam và từ đông sang tây (theo địa hình tự nhiên), độ nghiêng khoảng 10 – 15o. Vì di vật phân bố ở khắp các độ sâu của địa tầng, tầng văn hóa không có lớp vô sinh ngăn cách cho nên chúng tôi phân định tầng văn hóa thành các mức* dựa trên các đặc trưng về di tích và di vật. - Mức trên: Tương ứng với lớp 1 – 2, dày trung bình 0,6 – 0,7m. Đất nguyên thổ màu nâu, độ rắn và kết dính cao hơn lớp mặt.
Trong lớp này có một số phác vật rìu hình thang, rìu hình thang, bàn mài, mảnh vòng và phác vật vòng, khá nhiều công cụ cuội ghè đẽo, mảnh tước và một số ít mảnh gốm thô dày. - Mức giữa: Tương ứng với lớp 3, dày trung bình 0,4 – 0,5m. Đất giống lớp trên nhưng giàu sét, mịn và chắc hơn. Trong lớp này chứa những cụm đá tập trung cùng với công cụ cuội ghè, mảnh tước, hòn kê, hòn ghè và nhiều cuội tảng.
Đặc biệt trong một số cụm đá tập trung có mảnh gốm, bàn mài, than gỗ và mảnh hạt trám cháy. - Mức dưới: Tương ứng với lớp 4, dày trung bình từ 0,2 – 0,3m, di vật chủ yếu là công cụ cuội ghè, độ phong hóa cao, một số bàn mài, khá nhiều mảnh hạt trám cháy và mảnh gốm thô bở. Kết quả nghiên cứu phân tích 10 mẫu đất lấy trong thang địa tầng hố H1 di chỉ Huổi Ca do Phòng Phân tích Thí nghiệm tổng hợp Viện Địa Lý – * Mức là khái niệm dùng để chỉ các giai đoạn phát triển sớm muộn trong một tầng văn hóa thuần nhất không có lớp vô sinh ngăn cách mà chỉ có sự khác nhau nào đó về mặt di vật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Viện Khoa học và Công Nghệ Việt Nam phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành cho bảng số liệu như sau: Bảng 2.1: Kết quả phân tích các mẫu đất địa tầng di chỉ Huổi Ca (Lai Châu) TT Chỉ tiêu Màu sắc Mùn (%) Thành phần cơ giới (%) Cát (0,2- Limon(0,2 Sét < 0,002 KHM 0,02) -0,002) 1 10HC (-20cm) 7,5YR5/4 0.98 [Nguồn 71] - Màu sắc: Toàn bộ 10 mẫu đất đã thu thập đều có màu đỏ nâu, có độ đậm, nhạt thay đổi theo các tầng đất.
Tầng từ 20 – 40cm có màu hơi đậm (7,5YR 5/4), tầng 40 – 60cm có màu hơi nhạt (7,5YR 4/5), tầng 60 – 80cm có màu hơi đậm (7,5YR 5/4), tầng từ 80 – 120cm lại có màu đậm hơn (5YR 4/6), tầng từ 120 – 140cm hơi đậm (7,5YR 5/4), và tầng dưới cùng có màu đậm hơn (5YR 4/6). Các tầng đậm, nhạt xen kẽ như trên nguyên nhân có thể do các chu kỳ trầm tích có sự pha trộn các tạp chất khác nhau. Tuy nhiên các mẫu đất đều có màu đỏ nâu và cấu tạo rất giống nhau, chứng tỏ chúng có cùng nguồn cung cấp vật liệu trầm tích.