Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc với tổng đàn đạt 467 triệu con vào năm 2019, tăng 14,2% so với năm 2018, cung cấp sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 1.278,6 nghìn tấn và hơn 13,2 tỷ quả trứng. Riêng tại khu vực Tây Nguyên, quy mô đàn gà đạt 21,938 triệu con, trong đó phương thức chăn nuôi gà thịt chiếm ưu thế tuyệt đối với tỷ trọng 76,12%. Tuy nhiên, trước áp lực hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ đang bộc lộ nhiều hạn chế về năng suất, khả năng kiểm soát dịch bệnh và tính bền vững. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bảo tồn, khai thác hiệu quả nguồn gen gia cầm bản địa quý hiếm nhằm tạo ra chuỗi giá trị đặc sản có chất lượng thịt vượt trội, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.

Giống gà H’rê có nguồn gốc lịch sử gắn liền với cộng đồng dân tộc H’rê tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là nguồn gen quý sở hữu đặc tính chịu kham khổ, thịt thơm ngon nhưng đang đứng trước nguy cơ thoái hóa và mai một nghiêm trọng do tập quán thả rông kéo dài. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh học thực nghiệm tại Trường Đại học Quy Nhơn do học viên Lê Thị Hải Châu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Thanh Sơn đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm khảo sát toàn diện các chỉ tiêu sinh học và phẩm chất thịt của gà H’rê di thực.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2022 tại thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai trên đàn gà nuôi từ 1 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi. Mục tiêu cốt lõi là đánh giá khả năng thích nghi sinh thái, tỷ lệ nuôi sống, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối, hiệu quả chuyển hóa thức ăn FCR, năng suất thân thịt và các chỉ tiêu chất lượng cơ thịt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học đầu tiên về việc phát triển chăn nuôi bán chăn thả gà H’rê tại vùng khí hậu Tây Nguyên, mở ra sinh kế bền vững giúp nâng cao thu nhập cho đồng bào địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết di truyền số lượng hiện đại và mô hình tương tác kiểu gen với môi trường sống. Giá trị kiểu hình P được xác định theo mô hình toán học tổng quát: P = G + E, trong đó giá trị kiểu gen G cấu thành từ giá trị cộng gộp A, sai lệch trội D và sai lệch tương tác I; còn sai lệch môi trường E bao gồm sai lệch môi trường chung Eg và sai lệch môi trường riêng Es. Mô hình này giải thích rõ cơ chế thích ứng của giống gà bản địa khi thay đổi sinh cảnh tự nhiên từ vùng duyên hải Ba Tơ sang vùng cao nguyên Kbang.

Song song đó, đề tài kết hợp các nguyên lý di truyền tính trạng chất lượng của Mendel để giải mã sự phân ly màu lông, hình dáng mào cờ, màu chân vàng và màu da. Cơ sở lý thuyết về sinh lý sinh trưởng gia cầm theo mô hình ba pha của Chambers được ứng dụng để phân tích đường cong tăng khối lượng tích lũy, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối A tính bằng gam trên con mỗi ngày và tốc độ sinh trưởng tương đối R tính theo tỷ lệ phần trăm. Đồng thời, các khái niệm chuyên sâu về hệ số chuyển hóa thức ăn FCR, tỷ lệ thân thịt xẻ, năng suất cơ lườn, năng suất cơ đùi, động học biến đổi pH cơ thịt sau giết mổ và cấu trúc sợi cơ liên kết được hệ thống hóa chặt chẽ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu bố trí thí nghiệm so sánh trên cỡ mẫu gồm 60 cá thể gà H’rê thuần chủng 01 ngày tuổi khỏe mạnh, được nhập trực tiếp từ cơ sở bảo tồn giống tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để chia đều đàn gà thành 2 lô thí nghiệm độc lập, mỗi lô 30 con với cấu trúc giới tính cân bằng gồm 17 con mái và 13 con trống nhằm loại trừ tối đa sai số do yếu tố ngoại cảnh.

Lô 1 sử dụng khẩu phần thức ăn tự phối trộn từ các nguyên liệu địa phương gồm ngô nghiền 61,9% đến 63,0%, cám gạo 20,6% đến 21,0%, khô dầu đậu nành 9,5% đến 10,0%, bột cá 5,0% đến 6,0%, bổ sung 1,0% khoáng vi lượng Canxi và 0,5% Premix vitamin. Lô 2 sử dụng thức ăn công nghiệp tiêu chuẩn dành cho gà thịt với hàm lượng protein thô từ 19,0% đến 21,0% và năng lượng trao đổi từ 2.900 đến 3.000 kcal/kg. Gà được nuôi úm trong chuồng kín có lót trấu dày 10 cm ở 1 đến 3 tuần tuổi với nhiệt độ sưởi ấm 30 đến 34°C, sau đó chuyển sang phương thức bán chăn thả từ 4 đến 16 tuần tuổi với mật độ chuồng nhốt 3 đến 4 con/m² và sân thả vườn tự do trên 1 con/m².

Quá trình thu thập dữ liệu vi khí hậu chuồng nuôi được đo đạc định kỳ 3 lần/ngày bằng thiết bị kỹ thuật số chuyên dụng HMHTC-1. Cân khối lượng cơ thể định kỳ 2 tuần/lần vào buổi sáng trước khi cho ăn bằng cân có độ chính xác ±10g. Đến thời điểm 16 tuần tuổi, 12 cá thể đại diện gồm 6 con trống và 6 con mái được chọn ngẫu nhiên từ 2 lô để tiến hành mổ khảo sát tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Di truyền - Giống, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế. Các chỉ tiêu lý hóa của thịt được phân tích nghiêm ngặt: đo pH cơ ức ở các mốc 15 phút và 24 giờ sau bảo quản lạnh 4°C theo tiêu chuẩn ISO 2917-2001 bằng máy đo HI99163; xác định độ dai cắt đứt bằng máy đo lực cắt cơ học WDS-1 với vận tốc lưỡi dao 200 mm/phút; đo màu sắc thịt theo hệ màu CIE L*, a*, b* bằng máy so màu quang phổ CR400 Minolta; xác định tỷ lệ mất nước bảo quản 24 giờ ở 0 đến 4°C và mất nước chế biến khi gia nhiệt cách thủy ở 85°C trong 20 phút. Toàn bộ dữ liệu được xử lý thống kê sinh học qua phần mềm Excel 2010 và Statistix 10.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, điều kiện tiểu khí hậu tại huyện Kbang hoàn toàn thích ứng với đặc tính sinh học của giống gà H’rê. Nhiệt độ chuồng nuôi trung bình các tuần dao động từ 26,19°C đến 31,26°C và độ ẩm không khí duy trì trong ngưỡng 60% đến 80%, nằm trong tiêu chuẩn vệ sinh thú y TCVN. Tỷ lệ nuôi sống tích lũy từ 1 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi đạt kết quả rất khả quan, dao động từ 93,33% đến 96,67% ở cả 2 lô nghiên cứu, khẳng định sức sống dẻo dai và khả năng đề kháng dịch bệnh tốt của giống gà bản địa này khi di thực sang môi trường sống mới.

Thứ hai, đặc điểm ngoại hình của đàn gà duy trì tính đồng nhất cao với đầu nhỏ, mắt tinh nhanh, mào đơn đỏ tươi, dái tai trắng, da và chân có màu vàng đặc trưng. Màu sắc lông phân bố ở 3 dạng chính gồm màu trắng ngà, màu đen tuyền và màu hoa mơ nổ đốm trắng đen. Khối lượng cơ thể tăng trưởng đều đặn qua các tuần tuổi: tại thời điểm 16 tuần tuổi, gà nuôi bằng thức ăn công nghiệp đạt khối lượng trung bình khoảng 1.120g đến 1.160g ở con trống và 920g đến 960g ở con mái; trong khi gà nuôi bằng thức ăn tự phối trộn đạt khối lượng từ 1.040g đến 1.080g ở con trống và 860g đến 900g ở con mái. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối A đạt đỉnh cao nhất ở giai đoạn 6 đến 10 tuần tuổi với mức tăng trọng từ 12,8g đến 15,4g/con/ngày.

Thứ ba, hiệu quả chuyển hóa thức ăn FCR của gà H’rê nuôi bán chăn thả thể hiện tính kinh tế rõ rệt. Hệ số FCR toàn kỳ 16 tuần ở lô thức ăn công nghiệp đạt khoảng 3,45 đến 3,58 kg thức ăn/kg tăng trọng, trong khi lô thức ăn tự phối trộn đạt khoảng 3,76 đến 3,90 kg thức ăn/kg tăng trọng. Mặc dù chỉ số tiêu tốn thức ăn ở lô tự phối trộn cao hơn khoảng 8,2% đến 9,0%, chi phí giá thành sản xuất thực tế trên mỗi kilôgam thịt xuất chuồng lại thấp hơn nhờ tận dụng nguồn nông sản giá rẻ tại chỗ.

Thứ tư, năng suất giết mổ và phẩm chất cơ thịt ở thời điểm 16 tuần tuổi thể hiện những ưu điểm nổi trội của một giống gà đặc sản. Tỷ lệ thân thịt đạt mức 69,2% đến 71,5%, tỷ lệ thịt đùi chiếm 20,5% đến 22,1%, tỷ lệ thịt lườn chiếm 16,5% đến 17,8% và tỷ lệ mỡ tích tụ trong xoang bụng cực kỳ thấp, chỉ dưới 1,2%. Chỉ số pH15 đạt mức 6,25 đến 6,40 và giảm dần về pH24 ở mức 5,62 đến 5,75 sau 24 giờ bảo quản lạnh, chứng minh quá trình đường phân kỵ khí bình thường, không xảy ra hiện tượng thịt nhạt màu rỉ dịch PSE. Tỷ lệ mất nước bảo quản duy trì ở mức thấp từ 2,2% đến 2,8%, tỷ lệ mất nước chế biến nhiệt đạt từ 19,5% đến 21,4%, lực cắt độ dai của cơ ức đạt giá trị từ 26,5 N đến 31,2 N, tạo nên cấu trúc thịt săn chắc, thơm ngọt và giòn dai tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Diễn biến sinh trưởng của gà H’rê tuân theo quy luật sinh học kinh điển với đường cong tích lũy khối lượng dạng hàm số Sigmoid và đường cong sinh trưởng tuyệt đối dạng Parabol có đỉnh sinh trưởng rõ nét tại tuần tuổi thứ 6 đến thứ 10. Sự vượt trội về tốc độ tăng khối lượng của con trống so với con mái (chênh lệch từ 20% đến 25% ở 16 tuần tuổi) được giải thích bởi cơ chế di truyền liên kết giới tính và sự chi phối của các hormone sinh dục đực tác động lên quá trình tổng hợp protein tại ribosome.

Khi so sánh với các giống gà nội địa phổ biến tại Việt Nam như gà Ri, gà Tam Hoàng hay gà Mía, giống gà H’rê có khối lượng cơ thể trưởng thành nhỏ gọn hơn (khoảng 0,9 đến 1,2 kg) nhưng vượt trội về độ đậm đà của thớ thịt và tỷ lệ mỡ thân thịt rất thấp. Kết quả phân tích chất lượng cơ thịt qua các biểu đồ phân bố màu sắc CIE và bảng so sánh các chỉ tiêu mất nước cho thấy phương thức nuôi bán chăn thả giúp tăng cường quá trình vận động ngoài tự nhiên, từ đó kích thích phát triển mạng lưới mao mạch và tăng đường kính bó sợi cơ một cách cân đối. Điều này giúp thịt giữ được độ ẩm tự nhiên, không bị khô xác khi chế biến, hoàn toàn phù hợp với thị hiếu ẩm thực cao cấp của người tiêu dùng hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và chuyển giao quy trình dinh dưỡng tự phối trộn tại nông hộ. Ủy ban nhân dân các xã và Trạm Khuyến nông huyện Kbang cần tổ chức tập huấn kỹ thuật phối trộn thức ăn dựa trên công thức ngô nghiền 62%, cám gạo 21%, khô dầu đậu nành 10% và bột cá 5%, kết hợp bổ sung chế phẩm sinh học probioics nhằm hạ hệ số chuyển hóa thức ăn FCR xuống dưới 3,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, giúp giảm 12% đến 15% chi phí chăn nuôi trong giai đoạn 2023 - 2024.

Thứ hai, chuẩn hóa mô hình chuồng trại bán chăn thả an toàn sinh học. Các hộ chăn nuôi và hợp tác xã nông nghiệp tại Gia Lai cần áp dụng quy chuẩn chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mật độ nhốt đêm 3 đến 4 con/m² kết hợp sân vườn chăn thả có bóng cây xanh với diện tích tối thiểu 1 m²/con. Đồng thời, thiết lập lịch tiêm phòng vắc-xin định kỳ phòng ngừa bệnh Newcastle, Gumboro và tụ huyết trùng nhằm duy trì tỷ lệ nuôi sống toàn đàn đạt trên 96% trong suốt chu kỳ 16 tuần nuôi.

Thứ ba, thiết lập quần thể nhân giống hạt nhân và bảo tồn nguồn gen thuần chủng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai phối hợp cùng Viện Chăn nuôi xây dựng đàn giống hạt nhân quy mô 200 đến 300 cá thể gà H’rê thuần chủng tại Kbang trong giai đoạn 2023 - 2025. Cần kiểm soát chặt chẽ quy trình chọn phối, loại bỏ nguy cơ giao phối cận huyết và bảo tồn ổn định các tính trạng di truyền đặc trưng về màu lông, chất lượng cơ thịt.

Thứ tư, xây dựng chuỗi liên kết giá trị và nhãn hiệu sản phẩm OCOP. Phòng Nông nghiệp huyện Kbang cần chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp phân phối thực phẩm sạch để xây dựng nhãn hiệu chứng nhận "Gà đặc sản H’rê Kbang", đạt tiêu chuẩn OCOP 3 đến 4 sao, hướng tới mục tiêu cung ứng từ 30 đến 50 tấn gà thịt thương phẩm mỗi năm cho thị trường các đô thị lớn tại Tây Nguyên và khu vực duyên hải miền Trung vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Sinh học, Chăn nuôi - Thú y: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thích ứng sinh thái, quy trình thiết kế thí nghiệm dinh dưỡng so sánh và hệ thống tiêu chuẩn phân tích chất lượng thân thịt gia cầm theo chuẩn quốc tế.

Nhóm cán bộ khuyến nông, nhà quản lý nông nghiệp tại các địa phương vùng sâu vùng xa: Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng đáng tin cậy để xây dựng các dự án phát triển sinh kế, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của khu vực Tây Nguyên và miền Trung.

Nhóm chủ trang trại, hợp tác xã và hộ nông dân chăn nuôi gia cầm: Giúp người chăn nuôi nắm vững kỹ thuật chăm sóc, úm gà con, công thức tự phối trộn thức ăn giá rẻ từ phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ, từ đó tối ưu hóa chi phí đầu vào và nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm sạch và phát triển thương hiệu nông sản: Nguồn tư liệu chi tiết về các thông số cảm quan, tỷ lệ mỡ thấp và giá trị dinh dưỡng của thịt gà H’rê giúp doanh nghiệp định vị sản phẩm đặc sản phân khúc cao cấp và xây dựng chiến lược tiếp thị hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Giống gà đặc sản H’rê có những đặc điểm nhận diện ngoại hình nổi bật nào? Gà H’rê có thân hình cân đối, nhanh nhẹn, đầu tròn, mắt linh hoạt, mào đơn màu đỏ tươi và dái tai màu trắng. Chân và da có màu vàng đặc trưng, bộ lông dày mượt với ba kiểu hình màu sắc chính gồm màu trắng ngà, màu đen và màu hoa mơ nổ đốm trắng đen xen kẽ.

Khả năng thích ứng của gà H’rê tại điều kiện khí hậu huyện Kbang, tỉnh Gia Lai như thế nào? Gà H’rê thích nghi rất tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm mát mẻ tại Kbang với nhiệt độ trung bình từ 26,19°C đến 31,26°C. Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 16 tuần tuổi đạt mức ấn tượng từ 93,33% đến 96,67%, không ghi nhận dịch bệnh nguy hiểm bùng phát.

Nuôi gà H’rê bằng thức ăn tự phối trộn có mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn thức ăn công nghiệp không? Mặc dù hệ số chuyển hóa thức ăn của khẩu phần tự phối trộn đạt khoảng 3,76 đến 3,90 kg thức ăn/kg tăng trọng (cao hơn mức 3,45 đến 3,58 của thức ăn công nghiệp), chi phí nguyên liệu ngô, cám gạo và bột cá tại chỗ rẻ hơn đáng kể, giúp hạ giá thành sản xuất từ 10% đến 15%.

Chất lượng và năng suất thịt của gà H’rê ở thời điểm 16 tuần tuổi có ưu thế gì? Ở 16 tuần tuổi, gà đạt tỷ lệ thân thịt từ 69,2% đến 71,5%, tỷ lệ thịt đùi trên 20,5%, tỷ lệ mỡ bụng rất thấp dưới 1,2%. Thịt có độ dai cơ học lý tưởng từ 26,5 N đến 31,2 N, tỷ lệ mất nước bảo quản chỉ 2,2% đến 2,8%, mang lại vị ngọt đậm và thớ thịt săn chắc.

Đóng góp khoa học lớn nhất của công trình nghiên cứu này là gì? Luận văn đã công bố hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện đầu tiên về khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn và phẩm chất thịt của gà H’rê trong điều kiện bán chăn thả tại Tây Nguyên, tạo nền tảng khoa học vững chắc cho công tác bảo tồn nguồn gen vật nuôi quốc gia.

Kết luận

  • Công trình khẳng định tính khả thi vượt trội và khả năng thích nghi cao của giống gà đặc sản H’rê trong điều kiện sinh thái bán chăn thả tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai với tỷ lệ nuôi sống toàn kỳ đạt trên 93,33%.
  • Xác lập bộ dữ liệu sinh học chuẩn xác về sinh trưởng tích lũy đạt 0,9 đến 1,2 kg ở 16 tuần tuổi cùng hệ số chuyển hóa thức ăn FCR đạt từ 3,45 đến 3,90 kg thức ăn/kg tăng trọng.
  • Minh chứng phẩm chất thịt gà H’rê đạt tiêu chuẩn thương phẩm cao cấp với tỷ lệ thân thịt xẻ trên 69,2%, cơ thịt giàu liên kết săn chắc và tỷ lệ mỡ tích lũy cực thấp dưới 1,2%.
  • Cung cấp công thức phối trộn thức ăn dinh dưỡng từ nguồn nông sản địa phương, mở ra giải pháp giảm giá thành và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
  • Đề xuất lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2023 - 2025 tập trung vào tuyển chọn dòng thuần, nghiên cứu nhân giống quy mô trang trại và hoàn thiện hồ sơ đăng ký nhãn hiệu sản phẩm OCOP địa phương.

Quý độc giả, nhà khoa học và các cơ sở chăn nuôi quan tâm có thể khai thác chi tiết các bảng biểu số liệu thực nghiệm trong toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hải Châu tại Thư viện Trường Đại học Quy Nhơn để ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn sản xuất.