CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu 1. Phân loại động vật và nguồn gốc của đối tượng nghiên cứu 1. Phân loại động vật Theo tác giả Nguyễn Văn Thiện (1998) [47] thì gà thuộc: Giới (kinhdom): Animal Động vật Ngành (phylum): Chordata Có xương sống Lớp (class): Aves Chim Bộ (oder): Galliformes Gà Họ (family) : Phasianidae Trĩ Giống (genus): Banquiva Gallus Loài (species): Gallus gallus Gà nhà 1.
Nguồn gốc của gà và sự thuần hóa gà nhà Gà nhà hiện nay có nguồn gốc từ gà rừng Gallus, gà được nuôi ở Ấn Độ khoảng 2000 năm trước công nguyên. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) ở Việt Nam gà được nuôi cách đây 3000 năm. Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [26], gà rừng có thể chia thành 3 loại hình như sau: - Loại hình Banquiva (gà nguyên thủy): Lông nhiều, dán vào mình, ức nở, mào và dái tai phát triển, mỏ hơi cong dài và nhọn. - Loại hình Mã Lai (gà Chọi): Ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ, đầu nhỏ, mắt lõm vào hốc mắt, mỏ ngắn, khỏe.
- Loại hình Cochin: Nhiều lông, bồng, nhiều lông tơ, mào và dái tai vừa, tai nhỏ màu đỏ, mỏ tương đối ngắn. Có nhiều giả thiết cho rằng gà nhà được thuần hóa đầu tiên từ Ấn Độ cách đây hơn 5000 năm, ở Trung Quốc hơn 3000 năm. Sau đó xuất hiện ở Mesopotamin. Ở Tây Âu, gà nhà xuất hiện cách đây gần 2500 năm.
5 Có thể nói nước ta là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á. Gà nhà ở nước ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus banquiva. Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cho phép khẳng định Gallus banquiva là tổ tiên các giống gà nhà hiện nay. Có nhiều tài liệu chứng minh rằng gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đây phân bố đi khắp thế giới.
Trải qua thời gian thuần hóa và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa phương thích nghi tốt với điều kiện riêng biệt ở các nước khác nhau, đồng thời hình thành nên các giống gà theo các hướng sản xuất khác nhau. Cơ sở di truyền căn bản các tính trạng ở gà Tất cả các đặc điểm của một giống gà như: Các đặc tính sinh học, ngoại hình, tính năng sản xuất. đều là tính trạng di truyền. Lịch sử tiến hoá ở gia cầm đã hình thành hàng loạt các tính trạng, có thể phân chia các tính trạng thành hai loại là tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng (tính trạng năng suất).
Tính trạng chất lượng là tính trạng di truyền biểu hiện không liên tục hoặc ở trạng thái này hoặc ở trạng thái khác và bị chi phối bởi ít gen. Các tính trạng chất lượng không hoặc ít bị tác động của môi trường và sự khác nhau trong biểu hiện của chúng là rất rõ rệt (Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [1], Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [47]). Ở gia cầm, một số tính trạng như màu lông, hình dáng cơ thể, hình dạng mào.thuộc nhóm các tính trạng chất lượng. Hutt (1978) cho rằng, các tính trạng chất lượng được di truyền theo các định luật cơ bản của Mendel: quy luật di truyền trội - lặn, mỗi gen quy định một tính trạng và tác động riêng rẽ lên sự hình thành tính trạng hoặc do sự tương tác đơn giản giữa 2 cặp gen; quy luật di truyền liên kết và di truyền liên kết với giới tính.
Tính trạng số lượng là những tính trạng di truyền biểu hiện liên tục, do 6 nhiều gen chi phối, chịu nhiều ảnh hưởng từ môi trường. Hầu hết các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi là các tính trạng số lượng, đó là các tính trạng mà sự khác nhau giữa các cá thể là những sai khác về mặt số lượng trong mức độ biểu hiện của tính trạng trong từng cá thể và chỉ có thể phát hiện được sai khác bằng các tính toán và cân đo, đong đếm. Ở gia cầm có khá nhiều các tính trạng số lượng mà người ta có thể theo dõi được quy luật di truyền của chúng như tốc độ lớn, khối lượng trứng, độ dày vỏ, màu sắc vỏ trứng, tuổi đẻ trứng lần đầu, sản lượng trứng, sức chống bệnh, thể trọng. Bản chất di truyền các tính trạng số lượng là do nhiều gen chi phối và sự di truyền của chúng cũng phù hợp với các quy luật của Mendel.
Các tính trạng số lượng do nhiều gen kiểm soát và mỗi alen của gen có một hiệu ứng nhỏ, riêng biệt và biểu hiện kiểu hình là kết quả cộng gộp của các hiệu ứng của các alen, hay nói cách khác kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Lê Đình Trung và Đặng Hữu Lanh, 2000) [54]. P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình (phenotype value ) G là giá trị kiểu gen (genotype vanlue) E là sai lệch môi trường (envirmental eviation) Giá trị kiểu gen bao gồm: (1) Giá trị cộng gộp A (additive value) đây là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó cố định và di truyền được. (2)Sai lệch trội D (dominance deviation): là sự sai khác giữa giá trị kiểu gen (G) và giá trị giống (A) của một kiểu gen nào đó khi xem xét một locus duy nhất. (3) Sai lệch tương tác I (interaction deviation): là sai lệch có được do sự tương tác giữa các gen thuộc các locus khác nhau khi kiểu gen gồm từ hai locus trở lên.
G=A+D+I 7 Sai lệch môi trường gồm: sai lệch môi trường chung Eg (general environmental deviation) và sai lệch môi trường riêng Es (special environmental deviation). E = Eg + Es Trong di truyền số lượng kiểu gen của các cá thể thường được cấu tạo từ nhiều locus, vì vậy có thể biểu thị giá trị kiểu hình như sau: P = A + D + I + Eg + Es Kiểu di truyền và môi trường đều có tác động đến sự phát triển của tính trạng. Tuy nhiên, sự biểu hiện của tính trạng qua nhiều kiểu hình, kiểu di truyền quyết định các biến động là chính còn lại do di truyền và ngoại cảnh phối hợp tác động. Đối với tính trạng số lượng, giá trị kiểu gen được tạo thành do hiệu ứng nhỏ của các gen tập hợp lại cùng với các gen có hiệu ứng lớn.
Như vậy, năng suất của các giống vật nuôi là kết quả của mối tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường ngoại cảnh. Có thể nói rằng gia súc, gia cầm nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ (kiểu gen), tuy nhiên, sự thể hiện khả năng đó thành kiểu hình lại phụ thuộc vào môi trường sống (điều kiện địa lý, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng. Luận điểm này là cơ sở để tạo lập điều kiện môi trường ngoại cảnh thích hợp, nhằm củng cố và phát huy tối đa khả năng di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là trong chăn nuôi gia cầm. Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau.
Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau. Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, mang tính di truyền tương đối cao. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn. Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể kích thước các chiều đo (dài lườn, 8 rộng ngực, dài đùi.
Một số đặc điểm sinh học của gà H’rê Giống gà H'rê của đồng bào H'rê Quảng Ngãi được Viện Chăn nuôi đánh giá là giống gà đặc trưng quý hiếm của Quảng Ngãi nói riêng cũng như của Việt Nam nói chung, có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo tồn. Gà H’rê có khối lượng cơ thể nhỏ, gà mái khoảng 0,8 – 1,0 kg, gà trống khối lượng khoảng 1,0 – 1,2 kg, màu sắc lông rất đa dạng, trong đó có 03 màu lông chính là trắng ngà, đen và nổ (đen xen trắng), mào đơn, dái tai màu trắng, chân vàng, khả năng sinh sản và phát triển tốt, một năm đẻ 3 - 4 lứa, mỗi lứa đẻ 12 – 15 quả, tỷ lệ phôi tương đối cao: 70 – 90%; số con nở ra / phôi là 80 – 90%. Do tập quán nuôi thả rông, gà tự kiếm ăn, tự ấp, sinh sản kiểu tự nhiên nên việc chăn nuôi và phát triển giống gà H’rê trong đồng bào dân tộc H’rê còn hạn chế, bị pha tạp nhiều. Hiện nay gà H’rê tại cộng đồng người dân tộc H’rê còn rất ít và có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Vì vậy, việc lưu giữ, bảo tồn gà H’rê là hết sức cần thiết. Khái quát điều kiện tự nhiên, dân số vùng nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Huyện Kbang nằm ở cực Đông Bắc của tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku 90 km về phía Đông và cách thị xã An Khê 30 km về phía Bắc và cách thành phố Quy Nhơn (Bình Định) khoảng 110 km về phía Tây. Diện tích tự nhiên 1.841,86 km2, chiếm 11,9% diện tích toàn tỉnh; phía Tây giáp huyện Mang Yang, Chư Păh (tỉnh Gia Lai); phía Đông giáp huyện Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi) và huyện An Lão, Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định); phía Nam giáp Thị xã An Khê, huyện Đăk Pơ (tỉnh Gia Lai); và phía Bắc giáp huyện Kon Plong, Kon Rẫy (tỉnh Kon Tum).
Đặc điểm địa hình Địa hình huyện Kbang tương đối đa dạng, vừa có núi cao, cao nguyên, vừa có thung lũng ở giữa núi. Huyện có các độ cao địa hình khác nhau điểm 9 thấp nhất có độ cao 653m so với mực nước biển và điểm cao nhất là hơn 1000m so với mực nước biển. Hệ thống sông suối trên địa bàn dày đặc, phân bố khá đều, có nguồn sinh thuỷ dồi dào quanh năm, có nhiều ghềnh thác, đủ điều kiện xây dựng các công trình thuỷ điện, các đập dâng và hồ chứa loại vừa và nhỏ cung cấp điện và nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt. Sông Ba chảy qua địa phận huyện Kbang nguồn nước dồi dào có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kbang.