Luận văn tốt nghiệp khảo sát thực trạng và chuẩn hóa sản phẩm thịt trâu gác bếp hải khang theo tiêu chí ocop tại huyện bắc quang tỉnh hà giang

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp khảo sát thực trạng và chuẩn hóa sản phẩm thịt trâu gác bếp hải khang theo tiêu, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.2.2.1. Về chuyên môn
1.2.2.2. Về thái độ
1.2.2.3. Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc

1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện

1.3.1. Nội dung thực tập

1.3.2. Phương pháp thực hiện

1.3.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
1.3.2.2. Phương pháp quan sát
1.3.2.3. Phương pháp tổng hợp so sánh
1.3.2.4. Phương pháp thu thập thông tin
1.3.2.5. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin
1.3.2.6. Phương pháp tham vấn cán bộ lãnh đạo

1.4. Thời gian và địa điểm thực tập

1.4.1. Thời gian thực tập

1.4.2. Địa điểm thực tập

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN

2.1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập

2.2. Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về sản phẩm thịt trâu gác bếp

Sản phẩm thịt trâu gác bếp là một trong những đặc sản nổi tiếng của vùng núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Sản phẩm này không chỉ mang lại giá trị dinh dưỡng cao mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và truyền thống của người dân địa phương. Việc khảo sát và chuẩn hóa sản phẩm này theo tiêu chí OCOP (Mỗi xã một sản phẩm) là cần thiết để nâng cao chất lượng và giá trị thương mại của sản phẩm. Theo đó, việc chuẩn hóa sẽ giúp sản phẩm có thể cạnh tranh tốt hơn trên thị trường, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực của địa phương.

1.1. Đặc điểm sản phẩm thịt trâu gác bếp

Thịt trâu gác bếp được chế biến từ thịt trâu tươi, sau đó được ướp gia vị và phơi khô. Quy trình sản xuất thường bao gồm các bước như chọn nguyên liệu, chế biến và bảo quản. Nguyên liệu tự nhiên được sử dụng trong sản xuất là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Sản phẩm này không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn có tiềm năng xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Việc chuẩn hóa sản phẩm theo tiêu chí OCOP sẽ giúp nâng cao chất lượng và tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm, từ đó góp phần phát triển kinh tế địa phương.

II. Khảo sát thực trạng sản phẩm thịt trâu gác bếp tại Bắc Quang

Khảo sát thực trạng sản phẩm thịt trâu gác bếp tại huyện Bắc Quang cho thấy sản phẩm này đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ và phát triển. Mặc dù có nhiều sản phẩm đã được sản xuất, nhưng phần lớn vẫn chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng cần thiết để tham gia vào chương trình OCOP. Nhiều sản phẩm còn thiếu mẫu mã, bao bì hấp dẫn và chưa được quảng bá rộng rãi. Theo thống kê, chỉ có một số ít sản phẩm được đăng ký tiêu chuẩn chất lượng, điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và kỹ năng sản xuất của người dân địa phương.

2.1. Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất

Người dân tại Bắc Quang có kinh nghiệm lâu năm trong việc chế biến thịt trâu gác bếp, tuy nhiên, họ vẫn gặp khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới và quy trình sản xuất hiện đại. Việc thiếu thông tin về thị trường và nhu cầu tiêu dùng cũng là một rào cản lớn. Hơn nữa, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực địa phương cần được chú trọng hơn nữa. Để khắc phục những khó khăn này, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức liên quan trong việc đào tạo, nâng cao kỹ năng cho người dân.

III. Đề xuất giải pháp chuẩn hóa sản phẩm theo tiêu chí OCOP

Để chuẩn hóa sản phẩm thịt trâu gác bếp theo tiêu chí OCOP, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tổ chức các khóa đào tạo cho người dân về quy trình sản xuất, bảo quản và chế biến sản phẩm. Thứ hai, cần xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, tạo ra mẫu mã bao bì hấp dẫn để thu hút người tiêu dùng. Cuối cùng, việc kết nối giữa các nhà sản xuất và thị trường cũng cần được chú trọng, nhằm đảm bảo sản phẩm được tiêu thụ hiệu quả.

3.1. Tăng cường quảng bá và phát triển thương hiệu

Quảng bá sản phẩm là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao giá trị sản phẩm. Cần xây dựng các chiến dịch truyền thông để giới thiệu sản phẩm thịt trâu gác bếp đến với người tiêu dùng trong và ngoài nước. Việc tham gia các hội chợ, triển lãm cũng sẽ giúp sản phẩm được biết đến rộng rãi hơn. Đồng thời, cần phát triển các kênh phân phối hiện đại để sản phẩm có thể tiếp cận được nhiều khách hàng hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập Toàn cầu hoá và việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra yêu cầu các sản phẩm của Việt Nam ngày càng phải nâng cao tiêu chuẩn và nâng cao tính cạnh tranh (nhất là sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm thủ công), các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ về quản lý, về ứng dụng KHCN trong sản xuất và quản lý. Với tinh thần, chủ trương "quốc gia khởi nghiệp" theo phát động của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, với chỉ tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020, cần có sự hưởng ứng của cộng đồng ở cả thành thị và nông thôn. Theo đó, cần có sự tổ chức khoa học và sự chỉ đạo, hỗ trợ, dẫn dắt của Nhà nước để nông dân đứng trong tổ chức kinh tế của chính họ (là các SMEs, HTX), từ đó thực sự làm chủ, phát huy sự chủ động, sáng tạo trong phát triển kinh tế từ những lợi thế của mỗi địa phương trong cả nước.

Năm 2012, Chương trình OCOP (Mỗi xã, phường Một sản phẩm) Quảng Ninh đã được khởi xướng và chính thức triển khai từ 2013. So với Đề án Mỗi làng một nghề, Chương trình OCOP Quảng Ninh có sự khác biệt quan trọng là: Lần đầu tiên được triển khai theo cách có hệ thống, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, lấy trọng tâm là Chu trình OCOP thường niên; trung tâm là sản phẩm, không chỉ giới hạn ở thủ công mỹ nghệ mà được mở rộng thành 6 ngành hàng sản phẩm và dịch vụ. Ngày 27/10/2016, tại Hội nghị tổng kết giai đoạn 1 của Chương trình OCOP Quảng Ninh, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã quyết định nhân rộng mô hình OCOP tỉnh Quảng Ninh ra toàn quốc. Thực hiện chỉ đạo này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã triển khai điều tra trên phạm vi Luan van 2 toàn quốc, từ đó phân tích kết quả và xây dựng Đề án "Mỗi xã một sản phẩm, giai đoạn 2018-2020".

Sau khi nhận được ý kiến đóng góp của các bộ, ngành, các tỉnh, bản thảo Đề án đã được trình lên Chính phủ. Ngày 7/5/2018, Đề án đã được Chính phủ phê duyệt qua Quyết định số 490/QĐ-TTg. Kết quả điều tra về sản phẩm, các tổ chức kinh tế sản xuất cũng như số liệu báo cáo của các phòng ban chuyên môn quản lý trực tiếp có thể thấy hiện trạng thực tế về hệ thống sản xuất, kinh doanh, phân phối các sản phẩm địa phương của Hà Giang như sau: (1) Về sản phẩm: Số lượng sản phẩm lớn, đa dạng, một số sản phẩm đã có kiểu cách, mẫu mã bao bì tốt, đã đăng ký sử hữu trí tuệ, công bố chất lượng, song phần lớn các sản phẩm còn ở dạng tiềm năng, sản xuất theo quy trình truyền thống, đơn giản tại các cộng đồng, sản phẩm chưa có mẫu mã bao bì bắt mắt, quy cách khó sử dụng nên khó tiêu thụ, tiêu thụ ở phạm vi nhỏ trong địa phương hoặc chưa được thương mại hóa. Nhiều sản phẩm chưa tuân thủ các quy định của pháp luật như chưa có tiêu chuẩn chất lượng, chưa có mẫu mã bao bì đảm bảo theo yêu cầu, nhiều chỉ tiêu chất lượng chưa phù hợp hoặc chưa ổn định (Mới có 47 sản phẩm có đăng ký/công bố tiêu chuẩn chất lượng,chiếm 32 % tổng số sản phẩm hiện có).

(2) Về cơ sở sản xuất: Các tổ chức kinh tế, các nhóm kinh tế, được thành lập để phát triển các sản phẩm nông sản, sản phẩm truyền thống hoặc du lịch của địa phương tương đối nhiều. Phần lớn các tổ chức kinh tế được hỗ trợ thành lập theo các chính sách phát triển kinh tế của địa phương gần đây nên còn non trẻ, trình độ quản lý, quy mô sản xuất kinh doanh và đặc biệt là trình độ khoa học kỹ thuật, tính sáng tạo trong phát triển sản xuất, kết nối thị trường còn chưa cao. Tuy nhiên, lợi thế nhất của các tổ chức kinh tế tại Hà Giang là còn lưu giữ được các quy trình, công nghệ, thiết bị sản xuất truyền thống của địa phương như các loại men lá, các quy trình ủ men để tạo ra các loại rượu khác nhau, các thiết bị làm rượu truyền thống, hay như các bài thuốc Luan van 3 truyền thống, các loại nguyên vật liệu nhuộm màu cho thổ cẩm. Chính điều này sẽ trở thành lợi thế để phát triển thêm các sản phẩm dịch vụ trải nghiệm cho du khách tham quan, học tập và mua sản phẩm của mình.

(3) Về hệ thống quảng bá, phân phối và tiêu thụ sản phẩm: Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông cùng với đó là nỗ lực của chính quyền tỉnh Hà. hàng hóa của Hà Giang nói riêng được quảng bá rộng rãi như các hình ảnh về Cao Giang đã giúp cho hình ảnh tỉnh Hà Giang nói chung và các sản phẩm du lịch, sản phẩm nguyên đá – Cao nguyên độc nhất vô nhị ở Việt Nam, hình ảnh về Lễ hội hoa Tam giác mạch, về dinh nhà Vương, về đèo Mã Pì Lèng, về các lễ hội và nét văn hóa của người Mông, người Dao. Tuy nhiên, với nguồn lực hạn chế, những hình ảnh quảng bá đã giúp người người biết đến Hà Giang, biết đến Cao nguyên đá và đi trải nghiệm thì hệ thống dịch vụ, sản xuất hàng hóa, hệ thống phân phối và buôn bán sản phẩm lại chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, đặc biệt là khách du lịch. Thống kê cho thấy dọc trục du lịch Cao nguyên đá từ Quản Bạ đến Đồng Văn chỉ có 7 điểm trưng bày và bán sản phẩm một cách bài bản, còn lại chủ yếu là các gian hàng bày bán sản phẩm thô sơ, chất lượng dịch vụ còn sơ sài.

Từ đó cho thấy mức độ sản xuất cũng như tiêu thụ các sản phẩm nông sản, sản phẩm địa phương của Hà Giang còn thấp, chưa thực sự mang lại nhiều lợi ích cho người dân, do đó chưa hấp dẫn được người dân tham gia. Các lý do trực tiếp dẫn đến điều này là: - Người dân hoặc cơ sở sản xuất chưa biết cách tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm. - Khả năng sáng tạo còn thấp, trình độ kỹ thuật còn thấp, kỹ năng quản lý chưa có hoặc còn rất hạn chế dẫn đến chất lượng sản phẩm không ổn định, sản phẩm không đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về giá, chất lượng và mẫu mã. Luan van 4 - Một số sản phẩm đã được thương mại hoá thì việc bảo vệ, giữ gìn thương hiệu của sản phẩm, đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm, chống và ngăn chặn hàng giả, hàng nhái đối với các sản phẩm này,.

là các khó khăn lớn (hiện mới có 15 sản phẩm có đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, chiếm 10% tổng số sản phẩm hiện có). - Việc phát triển, sản xuất các sản phẩm đặc sắc này hiện nay vẫn còn mang tính tự phát, quy mô nhỏ, chưa có sự liên kết chặt chẽ các yếu tố, tỉnh bền vững không cao và giá trị gia tăng còn thấp do chưa biết tận dụng nguồn nguyên liệu và phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị. - Cộng đồng ở Hà Giang nói chung chưa quen với nền kinh tế thị trường và hội nhập, chưa có kỹ năng nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, phát triển sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng mà phần lớn sản xuất và bán sản phẩm sẵn có hoặc có thể làm được với công nghệ đơn giản. Một vấn đề đáng chú ý là việc chia sẻ lợi ích từ việc phát triển và thương mại hóa các sản phẩm này, xuất phát từ tri thức, công nghệ của cộng đồng, chưa hài hoà hợp lý.

Nhiều trường hợp mang lại lợi ích cho một cá nhân hoặc các nhà tư bản vốn do nó được phát triển dựa trên sự chiếm hữu cá nhân về các công nghệ của cộng đồng hoặc các hình thức đầu tư tại các địa phương với sự hỗ trợ của tỉnh. Từ thực trạng về phát triển kinh tế khu vực nông thôn, miền núi nói chung, hiện trạng hệ thống sản phẩm, các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và phân phối sản phẩm địa phương và những mô hình, kinh nghiệm triển khai các chương trình phát triển kinh tế nông thôn ở nước ngoài cũng như Chương trình OCOP đã được triển khai ở Quảng Ninh cho thấy Hà Giang cần có một Chương trình như vậy được xây dựng và triển khai một cách bài bản, đồng bộ và có hệ thống để đón lấy các cơ hội trước một cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra rất mạnh mẽ, trước một Luan van 5 phong trào thanh niên khởi nghiệp hết sức sôi nổi và trước một làn sóng khách du lịch đang chuyển dịch dần từ những điểm du lịch truyền thống những vùng đất mới như Hà Giang. Căn cứ vào Kế hoạch số 61/KH-UBND ngày 25/02/2019 của UBND tỉnh Hà Giang triển khai thực hiện Đề án mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tỉnh Hà Giang năm 2019, UBND huyện Bắc Quang đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án mỗi xã một sản phẩm (gọi tắt là Chương trình OCOP) năm 2019. Trong 18 sản phẩm OCOP thực hiện năm 2019, có 12 sản phẩm đã được Hội đồng đánh giá, phân hạng cấp tỉnh chấm đạt từ 50 điểm trở lên (3 sản phẩm đạt 4 sao OCOP, 8 sản phẩm đạt 3 sao OCOP).

Căn cứ vào công văn số 247/UBND-VP ngày 15/01/2020 về việc đăng ký ý tưởng sản phẩm tham gia Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) huyện Bắc Quang năm 2020 và kế hoạch 803/KH-UBND ngày 26/02/2020 của UBND huyện Bắc Quang triển khai thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) huyện Bắc Quang năm 2020, thực hiện kế hoạch số 2662/KH-UBND ngày 02/6/2020 về việc tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm tham gia Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” huyện Bắc Quang năm 2020, các sản phẩm tham gia đánh giá gồm 38 sản phẩm, trong đó có 30 sản phẩm đăng ký thi mới, 03 sản phẩm đăng ký nâng sao và 05 sản phẩm đăng ký thi lại. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát thực trạng và chuẩn hóa sản phẩm thịt trâu gác bếp Hải Khang theo tiêu chí OCOP tại huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang” 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Khảo sát về thực trạng của sản phẩm thịt trâu gác bếp trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể để Luan van 6 chuẩn hóa sản phẩm này theo tiêu chuẩn OCOP trong thời gian tới, từ đó góp phần thực hiện Chương trình OCOP trên địa bàn nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Khảo sát thực trạng và chuẩn hóa sản phẩm thịt trâu gác bếp theo tiêu chí OCOP tại Bắc Quang, Hà Giang" của tác giả Nguyễn Thị Huê, dưới sự hướng dẫn của TS. Hà Quang Trung, tập trung vào việc đánh giá hiện trạng và quy trình chuẩn hóa sản phẩm thịt trâu gác bếp tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sản phẩm truyền thống của địa phương mà còn đề xuất các tiêu chí OCOP (Mỗi xã một sản phẩm) nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng và marketing trong lĩnh vực thực phẩm, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua mỹ phẩm thuần chay của người tiêu dùng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi phân tích các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, bài viết Hành vi tiêu dùng của tín đồ thờ Mẹ trong mua sắm trang sức cũng mang đến cái nhìn thú vị về hành vi tiêu dùng trong một bối cảnh văn hóa đặc biệt. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu quy trình sản xuất sản phẩm cam sấy: Luận văn tốt nghiệp sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất thực phẩm, một khía cạnh quan trọng trong ngành nông nghiệp và thực phẩm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm và hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm.