Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển sản phâm chè theo hướng sản pham OCOP. Chương 2: Thực trang phát triển các sản pham chè huyện Võ Nhai, tinh Thái Nguyên thành sản phẩm OCOP Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển các sản phẩm chè huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên thành sản phẩm OCOP. NỘI DUNG CHUONG 1: CO SO LI LUAN VA THUC TIEN VE PHAT TRIEN SAN PHAM CHE THEO HUONG SAN PHAM OCOP 1. Cơ sé lí luận về phát triển sản phẩm chè theo hướng sản phẩm OCOP 1.
Khái quát về cây chè và các sản phẩm từ chè 1. Khái quát về cây chè - Khai niệm: Cây chè (hay trà) có tên khoa hoc là Camellia Sinensis, là loài cây mà lá và chéi được sử dụng để sản xuất trà, Trước đây cây đã từng có các danh pháp khoa học là Thea bohea và Thea viridis. Loại cây này được trồng nhiều tại các quốc gia thuộc châu A với các mục đích như: dùng chè làm thức uống, làm thuốc và cũng có thé trồng dé làm cây cảnh. Ở các mức độ oxy hóa khác nhau, cây chè có thể chế biến được trà xanh, trà ô long và cả trà đen.
Đặc điểm: Mặc dù cây chè có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực Nam Á, Đông Á và Đông Nam A nhưng ngày nay ở hau hết các nơi trên thế giới cây chè đã được trồng phô biến, đặc biệt ở các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Đây là loại cây xanh lưu niên với đặc điểm thường mọc thành các bụi hoạc thành các cây nhỏ riêng biệt. Thông thường khi được trồng với mục đích dé thu hoạch lá, các cây chè sẽ được cắt tia để giữ độ cao thấp hơn 2 mét. Rễ cái của cây dài.
Trắng ánh vàng là màu đặc trưng của các bông hoa chè, đường kính của hoa khoảng lớn hơn 2,5 cm và nhỏ hơn 4 cm, số cánh hoa là 7 hoac 8. Hạt chè cũng có thé sử dung để sản xuất dầu bằng việc ép chúng. Độ dai của lá chè trong khoảng từ 4 đến 15 cm và 2 đến 5 cm là độ rộng của lá. Loại lá chè đạt thu hoạch để sản xuất là loại lá non có màu xanh lục và nhạt.
Ở giai đoạn lá non này, có các long tơ ngăn ở mặt dưới của lá, các long tơ này có đặc điểm là ngắn mà có màu trang. Khi vé gia, 14 sé đổi từ mau xanh luc nhạt sang màu lục sam. Ta có thé sản xuất nhiều sản phâm chè khác nhau từ các giai đoạn lá chè khác nhau, vì mỗi giai đoạn lá chè có một thành phần hóa học riêng biệt. Thông thường người ta sẽ chỉ thu hoạch lá chồi và 2-3 lá mới mọc gần chéi dé chế biến.
Déu đặn 1-2 tuần công việc này sẽ diễn ra 1 lần. Với khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chống rét và trống hạn khá, cây chè hết sức phù hop dé phát triển tại nước ta. Khi đạt 4 tuổi, năng xuất của cây chè đạt 5 tan/ha, 8 tuổi năng xuất của cây chè sẽ khoảng 9 tan/ha và khi cây chè được 10 năm tuổi năng suất sẽ là khoảng 12 tan/ha. Về giá trị dinh dưỡng: Chất hòa tan và hàm lượng tanin có trong chè rất cao.
Cụ thé hàm lượng của các chất như: 1,72% là tổng số axit amin, chất hòa tan khoảng 44,9%, Catethin có tổng số là 145mg/gck, tổng số Tatin đạt khoảng 37%. Bên cạnh đó, trong chè còn có rất nhiều loại vitamin, ví dụ như vitamin Bó, BI, B2, A, vitamin PP và có nhiều nhất chính là vitamin C. Tác dụng trong chống phóng xạ là một giá trị hết sức đặc biệt của chè mới được phát hiện gần đây. Các nhà khoa học của đất nước Nhật Bản đã thông báo điều này qua việc chứng minh chè có tác dụng chống một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm là chất Stronti (Sr) 90, khoảng 90% chất đồng vị phóng xạ này sẽ được tách ra khỏi cơ thê chỉ với khoảng 2% dung dịch tannin có trong chè được uống.
Vai Trò: Nếu như cây lúa nước được coi là cây trồng chủ đạo ở các vùng miền xuôi thì cây chè chính là cây trồng chủ lực ở các tỉnh miền núi mang các tính chất quyết định dé phát triển KT — XH, được coi là cây xóa đói giảm nghèo cho các đồng bào ở miền núi nước ta. Vì cây chè có sức sống mãnh liệt và trong cây có nhiều tác dụng trong việc hỗ trợ sức khỏe, làm dep.cu thé: (1) Tác dụng của lá chè: + Lá chè có tác dụng kháng viêm và diệt khuẩn nên trong dân gian người dân thường sử dung nước trà xanh dé rửa vết thương tránh nhiễm trùng. + Chống lại được các chất phóng xạ và cả các tia độc hại như tia cực tím và tia UV + Lá chè cũng có tác dụng trong việc thúc đầy các quá trình tiêu hóa và bài tiết cua con ngƯỜi. + Hỗ trợ, cải thiện trong việc điều trị các bệnh về tim, mạch và chức năng hô hấp của con người.
+ Lá chè còn có tác dụng phòng và tránh các bệnh liên quan đến hệ thần kinh như bệnh Parkinson — một bệnh thần kinh tăng tiễn, bệnh này tác động đến khả năng vận động của con người và đôi khi còn tác đọng đến cả khả năng nhận thức. + Điều hòa, làm giảm lượng chất béo và cholesterol có trong cơ thể và trong mau của con người + Ngoài ra, còn kích thích thần kinh giúp cho tinh thần của chúng ta luôn tỉnh táo và minh mẫn. Mặt khác còn kích thích tạo ra sự hung phan. (2) Tác dung cua bã chè (lá chè sau khi sử dung): + Trong nhà bếp với nhiều dụng cụ nấu ăn, tủ lạnh hay nhà vệ sinh là nơi có nhiều mùi khó chịu, có thê dùng bã chè để khử mùi hôi, vừa hiệu quả, an toàn, vừa tiết kiệm.
+ Ba chè có tác dụng giống như chất tây rửa, có thé tây trắng được các đồ vật như các cửa kính, mặt gương. làm cho các vật dụng này sáng hơn. + Nếu như hương muỗi, hương đuổi côn trùng có thể đuôi được các loại con trùng, ruồi, muỗi, gián. thi bã chè cũng có thé làm được điều này.
+ Cuối cùng ta có thé lay bã chè bón cho cây trồng để cung cấp các chất dinh dưỡng hữu cơ cho cây và cũng dé giữ âm cho dat. Khái quát các sản phẩm từ chè Trong những năm gần, sản phâm từ chè ngày càng đa dạng. Ban đầu chỉ có hai loại chè chính là chè xanh cho tiêu thụ trong nước va ché den OTD cho xuất khâu thì tới nay, nước ta đã có đầy đủ các loại chè đáp ứng được với tất cả các nhu cầu trong va ngoai nước. Với những tác dụng hữu ích mà chè mang lai, cụ thé là công dung tuyệt vời cho sức khỏe như chống oxy hóa, phòng ung thư, giảm cân, đẹp da, ngăn ngừa các bệnh về xương khớp và tim mạch.
Nên hiện nay trên thị trường có rất nhiều sản phan có thành phan là trà xanh. Nhóm sản phẩm nổi bật chính là bánh kẹo sản xuất từ nguyên liệu chè. Ví dụ như kẹo lạc trà xanh. Kẹo lạc nhưng có vị trà xanh.
VỊ trà không đủ để người ăn cảm thấy chát nhưng tạo ra được vi ngọt thanh đặc biệt. Nước giải khát đóng chai cũng là một sản phâm từ chè hết sức phé biến trong những năm gần đây. Con người ngày càng bận rộn và nhu cầu cho các sản phẩm tiện lợi, sử dụng trực tiếp không cần đem về chế biến ngày càng cao. Những nhãn hiệu nước giải khát có chiết xuất trà xanh được người tiêu dùng ưa thích trên thị trường có thé kế đến như trà thanh nhiệt Dr.
Thanh, trà xanh Không độ, trà xanh Lipton, trà xanh Nhật Kirin hay trà Ô long Tea+. Có thể thấy dòng sản phẩm này rất đa dạng. Ngoài ra, các chế phẩm chiết xuất trà xanh không chỉ giới hạn trong phân khúc nước giải khát mà còn ở thực phẩm va được — mỹ phẩm. Người tiêu dùng Việt chang còn quá xa lạ với những sản pham phổ biến như mặt nạ matcha, sữa rửa mặt trà xanh, kem dưỡng 4m — trị mụn trà xanh hay thậm chí sữa tăm, nước rửa bát, kem đánh răng cũng chứa thành phan tinh chat trà xanh.
Đa dạng hóa các sản phẩm từ chè là xu thế tất yếu. Điều này không chỉ giúp người sản xuất và kinh doanh chè có thêm nhiều cơ hội gia tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần tạo ra nhiều sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên có lợi cho sức khỏe 1. Khái quát về chương trình OCOP Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” one commune one product — gọi tắt là OCOP. Chương trình OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tang giá trị; là giải pháp, nhiệm vụ quan trọng trong triển khai nhiệm vụ Chương trình MTQG xây dựng NTM.
Trọng tâm của chương trình OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất) và kinh tế tập thể thực hiện. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hanh khung pháp lý và chính sách dé thực hiện; định hướng quy hoạch các vùng sản xuất hang hóa, dịch vụ; quản lý và giám sát tiêu chuân chất lượng sản phẩm; hỗ trợ các khâu: đào tao, tập huấn, hướng dẫn, kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiễn thương mại, quảng bá sản phẩm, tín dụng nhằm phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, đảm bảo NTM phát triển bền vững. Chương trình OCOP được bắt đầu từ NHật Bản với tên gọi tương tự đó là “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển các sản phẩm nông nghiệp bền vững, tạo thu nhập và việc làm cho người dân địa phương. Nội dung của chương trình đó là các làng, xã chọn lọc các sản phẩm hang hóa có giá tri gia tang cao, có sức cạnh tranh, cung cấp ra thị trường nhằm nâng cao mức sống cho người dân, Chương trình đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ các sản phẩm có chất lượng, sức cạnh tranh, đem lại thu nhập cao cho người dân.
Phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của vùng nông thôn, khả năng tự lập, sáng tạo và hợp tác liên kết. Từ thành công của Nhật Bản, đến nay có hơn 40 quốc gia trên thế giới đã học tập và triển khai chương trình dem lại hiệu quả KT — XH to lớn, mang đậm tính đặc trưng của mỗi quốc gia như: Thái Lan, Philippine, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Hoa Kỳ.