Đặt vấn đề Ở Việt Nam, nuôi trồng thủy sản đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh thực phẩm cho những hộ nuôi quy mô nhỏ và đóng góp tới 35% lượng tiêu thụ protein của người Việt Nam. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm tăng trưởng 10% và góp phần đáng kể cho thu nhập từ nguồn xuất khẩu của cả nước (Bộ Thuỷ sản, 2007).Việt Nam nói chung và khu vực phía bắc (Hà Nội) nói riêng, thủy sản đang phát triển với tốc độ cao và là thế mạnh trong phát triển kinh tế xã hội. Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính, tiềm năng về diện tích nuôi trồng thủy sản trên 30.000 ha, diện tích đã đưa vào nuôi trồng thủy sản đến nay là 20.700 ha, trong đó diện tích mặt nước lớn, hồ chứa là 4.327 ha, ao hồ nhỏ là 6. Diện tích ruộng trũng chuyển đổi sang nuôi thủy sản tập trung trên 9.
Ngoài ra còn có tiềm năng phát triển nuôi cá lồng bè trên các sông như sông Hồng, sông Đà, sông Bùi, sông Đáy. Năm 2013 đã được sự quan tâm chỉ đạo của thành phố đã hoàn thành quy hoạch nông nghiệp, thủy sản tạo điều kiện ổn định về diện tích nuôi thủy sản. Theo điều tra gần đây, cá Chép là loài nuôi chiếm ưu thế có 30,1% số lượng cá trong những ao nuôi ghép (Austin et al. Vì vậy, việc ương nuôi từ giai đoạn cá bột, tạo ra nguồn giống đảm bảo chất lượng và số lượng là điều cần thiết hiện nay.
Trong quá trình sản xuất giống và ương nuôi, đặc biệt từ giai đoạn trứng lên cá bột là giai đoạn biến đổi phức tạp về sinh lý sinh thái, phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố môi trường: nhiệt độ, oxy, pH…, chúng quyết định đến tỷ lệ sống, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình của cá bột. Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về khả năng thích ứng của cá chép với điều kiện môi trường. 2 Xuất phát từ những vấn đề trên nên đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu sinh thái của cá Chép V1 giai đoạn phôi, cá bột và cá hương tại Trung Tâm giống Thủy sản Hà Nội” được thực hiện. Mục đích nghiên cứu - Khảo sát một số chỉ tiêu sinh thái sinh lý thích hợp đến tỷ lệ sống cũng như sinh trưởng của cá Chép V1 giai đoạn phôi, cá bột và cá hương.
- Xác định hiệu quả mà yếu tố sinh thái đem lại cho giống cá Chép V1. Góp phần làm cơ sở khoa học cho sự phát triển sản xuất và ương nuôi con giống tại Trung tâm giống Thủy sản Hà Nội để đạt hiệu quả cao hơn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học - Đề tài đóng góp thêm những tư liệu khoa học về khả năng thích nghi một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của cá chép V1 trong quá trình nuôi từ giai đoạn phôi, cá bột và cá hương. - Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng con giống tốt để đưa vào sản xuất.
* Ý nghĩa thực tiễn - Khuyến cáo cho các tập thể, nông hộ, các cá nhân nuôi cá Chép V1 thương phẩm trong ao. - Thông qua tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm trang bị thêm phương pháp nghiên cứu và kiến thức cho bản thân, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh học của cá chép 2. Đặc điểm phân bố Trên thế giới, Linnaeus là người đầu tiên mô tả về cá chép, loài cá chép ở châu Âu có nguồn gốc hoang dã ở vùng Danubian và có tên khoa học Cyprinus carpio. Cá chép phân bố rộng trên nhiều vùng địa lý, từ vùng cận nhiệt đới đến nhiệt đới. Cá sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng cũng sống được ở nước lợ có nồng độ muối thấp.
Chúng có thể sống được ở độ cao 1.500m so với mặt nước biển. Riêng ở Việt Nam, cá chép phân bố ở phía Bắc đến Bắc Trung Bộ với những quần đàn tự nhiên khá lớn. Tuy nhiên, các tỉnh phía Nam nước ta không có cá chép phân bố. Hiện nay ở nước ta, bên cạnh cá chép nhập nội từ Trung Quốc, đã nhập thêm nhiều dòng cá chép chất lượng cao ở Châu Âu, đặc biệt là các dòng cá đã được lai tạo và chọn lọc từ Hungary, góp phần làm phong phú thêm các giống loài cá thả nuôi trong các loại hình thủy vực.
Các thủy vực có độ sâu trên 1m, người ta chia độ sâu làm 3 tầng: tầng mặt, tầng giữa và tầng đáy. Trong các thủy vực nước ngọt, cá chép thường phân bố ở tầng đáy và bơi lội thành đàn. Tuy nhiên, cá chép có thể lên sống ở tầng mặt khi điều kiện sống ở tầng đáy bất lợi cho cá. Trong đó, yếu tố nổi bật là hàm lượng oxy hòa tan thấp và đáy có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy tạo khí độc NH3, H2S.
Vị trí phân loại Theo tài liệu định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc của Mai Đình Yên (1978), cá chép có hệ thống phân loại như sau: 4 Bộ: Cypriniformer Họ:: Cyprinidae Giống:: Cyprinus Loài: Cyprinus capio. Đặc điểm hình thái * Hình thái cấu tạo ngoài: Một số đặc điểm hình thái chung của cá chép được thể hiện qua hình 2.1: Đặc điểm hình thái của cá chép Cyprinus carpio. L ở trung tâm giống Thủy sản Hà Nội Cá chép Việt Nam có tên khoa học là Cyprinus carpio L, có sự phân bố rộng và có nhiều biến dị rất phong phú về hình thái lẫn màu sắc. Tùy theo khu vực địa lý phân bố mà các loại hình cá chép có một số đặc điểm hình thái khác biệt nhau.Tuy nhiên, chúng có vài đặc điểm chung như sau: Thân cá hình thoi, mình dây, dẹp bên.
Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng. Đầu cá thuôn, cân đối. Có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt. Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu.
Khoảng cách hai mắt rộng và lồi. Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt. Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Môi dưới phát triển 5 hơn môi trên.
Màng mang rộng gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa. Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ. Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa.
Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó. Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn chắc và phía sau có răng cưa. Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn. Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi tầy và tương đối bằng nhau.
Vẩy tròn lớn. Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài. Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc.
Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen. Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam. 56 4 1 5 Công thức vẩy đường bên: 30 2 33 Công thức vây: D: III, 18-22; A: III, 5-6; P: 1, 13-16; V: 1, 6-9. Công thức răng hầu: II3 - 3II, đôi khi I23 - 32I.
- Hình thái cấu tạo trong của cá chép: + Mang (hệ hô hấp): Nằm dưới xương nắp mang trong phần đầu bao gồm các lá mang gần xương cung mang. + Tim (hệ tuần hoàn): Nằm phía trước khoang thân ứng với vây ngực. + Hệ tiêu hoá (thực quản, dạ dày, ruột, gan): Ruột dài nằm trong ổ bụng phân hoá rõ rệt thành thực quản, dạ dày, ruột, có gan tiết mật. + Bóng hơi: Trong khoang thân, sát cột sống.
Tùy theo khu vực địa lý phân bố mà cá chép sẽ có một số đặc điểm hình thái khác nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các cá thể vẫn nằm trong giới hạn đặc tính hình thái của loài. Những nghiên cứu đầu tiên của Trần Đình 6 Trọng 1983 thì cá chép Việt Nam có 6 dạng hình: cá chép đỏ, cá chép trắng, cá chép kính, cá chép cẩm, cá chép gù, cá chép Bắc Cạn. Riêng cá chép trắng được nuôi phổ biến và giữa các loại hình cá chép này có những đặc trưng hình thái riêng và vùng phân bố đặc trưng: Cá chép trắng: vẩy phủ kín thân, màu trắng bạc, thân thon dài, lưng hơi thẫm.
Mút vây ngực, vây bụng, vây hậu môn và vây đuôi pha màu hồng. Cá thích hợp với điều kiện môi trường nước ta, có sức sống khá cao và mang nhiều đặc điểm hoang dã. • Cá chép đỏ: vẩy phủ kín thân, màu đỏ thẫm hoặc đỏ nhạt hay vàng da cam. Số tia mềm vây lưng ít.
Cá chịu đựng được điều kiện môi trường khắc nghiệt nhưng có tốc độ tăng trưởng chậm. • Cá chép cẩm: phân bố ở thượng nguồn các con sông hay các ao, hồ tự nhiên vùng miền núi. Vẩy phủ kín thân, có màu tím huế. • Cá chép kính: cơ thể ít vẩy, thân cá dẹp bên, miệng hướng về phía trước khá rộng, vây đuôi có hai thùy bằng nhau.
• Cá chép gù: cá thích hợp sống ở nơi thượng nguồn, ở các con sông có mức nước 0,2 - 0,3m. • Cá chép Bắc Cạn: thân dài, chiều dài gốc vây lưng ngắn hơn các cá khác, có màu vàng mỡ gà, được nuôi nhiều ở Bắc Cạn. Ngoài ra, nước ta cũng đã di nhập nhiều giống cá chép ngoại như: cá chép vàng Indonesia, cá chép Hunggary 2. Đặc điểm dinh dưỡng Cá chép thuộc loài cá nuôi phân bố tầng đáy, ăn động vật hoặc ăn tạp thiên về động vật, thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển.
Khi hết noãn hoàng cá ăn động vật phù du, giai đoạn cá hương cá ăn động vật đáy, giai đoạn trưởng thành cá ăn tạp thiên về động vật. 7 Cá có phổ thức ăn rất rộng, khi phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá chép cho thấy mùn bã hữu cơ chiếm tới 70%, kế đến là nhuyễn thể và thấp nhất là động vật giáp xác (Nguyễn Văn Kiểm, 2004) [5]. Tính ăn cá chép có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và sự hoàn thiện dần của hệ thống men tiêu hóa trong cơ thể. Từ 1 đến 3 ngày tuổi cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng.
Từ 3 đến 4 ngày tuổi cá bắt ăn thức ăn bên ngoài, thức ăn chủ yếu của cá là động vật phù du cỡ siêu nhỏ: luân trùng (Rotifera), giáp xác râu ngành (Cladocera).