CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN I. Một số khái niệm cơ bản. BMI là một trong những chỉ số quan trọng được dùng trong đánh giá sức khỏe 1. khái niệm BMI BMI là viết tắt của cụm từ Body Mass Index hay còn gọi là chỉ số khối cơ thể.
Phát minh ra công thức này là một nhà khoa học người Bỉ nổi tiếng Adolphe Quetelet. Chỉ số này được tính dựa vào nhiều thông số khác nhau của cơ thể. Như hình dáng, cân nặng, chiều cao. Ý nghĩa của chỉ số BMI.
Sau khi tính toán, chỉ số này được dùng để xác định tình trạng cơ thể. Mọi người sẽ dựa vào đó để tính xem người đó có bị béo phì, thừa cân không? Hay họ đang bị suy dinh dưỡng. Thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc theo dõi sức khỏe thường xuyên. Việc giữ cơ thể trong tầm cân nặng cho phép có ý nghĩa rất lớn.
Nó giúp mọi người giữ được cơ thể cân đối. Đồng thời, đây cũng là một yếu tố quan trọng, giúp ích rất nhiều trong việc phòng tránh các bệnh liên quan tới béo phì hay gầy. Cách tính chỉ số BMI BMI = Cân nặng /[(chiều cao)2] Trong đó, chiều cao tính bằng đơn vị m. Cân nặng tính bằng đơn vị kg.
Chỉ số này có thể áp dụng với đông đảo dân số. Tuy nhiên, cần loại trừ phương pháp xác định chỉ số khối cơ thể với phụ nữ có thai, người tập thể hình và các vận động viên thể thao chuyên nghiệp. Bảng phân loại gầy/ béo dựa vào chỉ số BMI Phân loại BMI – Châu Âu BMI – Châu Á Cân nặng thấp <18,5 Bình thường 18,5 – 24,9 18,5 – 22,9 8 Thừa cân >= 25 >=23 Tiền béo phì 25 – 29,9 23 – 24,9 Béo phì độ 1 30 34,9 25 – 29,9 Béo phì độ 2 35 – 39,9 >=30 Béo phì độ 3 >= 40 Dựa vào chỉ số BMI có thể đánh giá một người gầy hay béo, có thừa cân hay không Theo nhận định chung của các chuyên gia sức khỏe, BMI lý tưởng của người Việt nằm trong khoảng từ 18,5 đến 22,9. Nếu lớn hơn mức này, bạn hãy chú ý đến cân nặng.
Đồng thời thực hiện những biện pháp cần thiết để điều chỉnh chế độ ăn và tập luyện sức khỏe. Từ đó có được cơ thể tốt và vừa phải. Nhu cầu năng lượng. Khái niệm Nhu cầu năng lượng.
Nhu cầu năng lượng gồm có đáp ứng nhu cầu năng lượng cho chuyển hóa cơ bản và cung cấp năng lượng cho những hoạt động của cơ thể. Năng lượng cho chuyển hóa cơ bản là năng lượng cần thiết để duy trì sự sống. Năng lượng cho hoạt động của cơ thể tuỳ theo loại hoạt động của mỗi người. Nhu cầu năng lượng cơ bản : Năng lượng cần cho sự chuyển hóa cơ bản là năng lượng cần thiết để duy trì sự sống (trong điều kiện nghỉ ngơi, nhịn đói, nhiệt độ 18–20 0C) cho các hoạt động sinh lý cơ bản như: tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, hoạt động các tuyến, duy trì thân nhiệt khoảng 1400- 1600Kcalor/ngày/người trưởng thành.
Tính cân nặng lý tưởng (CNLT) CNLT = [ chiều cao (cm) – 100 ] x 0. Tính nhu cầu năng lượng (NCNL) NHU CẦU NĂNG LƯỢNG Lao động Nam Nữ Nhẹ CNLT x 30 Kcal/kg/ngày CNLT x 25 Kcal/kg/ngày Trung Bình CNLT x 35 Kcal/kg/ngày CNLT x 30 Kcal/kg/ngày Nặng CNLT x 45 Kcal/kg/ngày CNLT x 40 Kcal/kg/ngày 3. Lao động thể lực. Ngoài phần năng lượng tiêu hao để duy trì các hoạt động của cơ thể, lao động thể lực càng nặng thì tiêu hao càng nhiều năng lượng.
Năng lượng thêm vào ngoài chuyển hóa cơ bản tùy theo cường độ lao động, thời gian lao động. Từ lâu người ta cũng biết những khác nhau về năng lượng tiêu hao có thể khác nhau khá lớn ngay cả khi có cùng điều kiện sống và công việc đó ỉa những yếu tố thể trọng, tuổi, môi trường và đặc biệt sự khéo léo và thành thục công việc. Nếu ăn uống không đảm bảo mức tiêu hao năng lượng người ta sẽ kéo dài thời gian nghỉ, hoặc giảm cường độ lao động dẫn tới năng suất lao động giảm. Dựa vào tính chất, cường độ lao động thể lực người ta xếp các loại nghề nghiệp thành nhóm như: - Lao động nhẹ: Nhân viên hành chính, các nghề lao động trí óc, nghề tự do, nội trợ, giáo viên.
- Lao động trung bình: Công nhân xây dựng , nông dân, nghề cá, quân nhân, sinh viên. - Lao động nặng. Một số nghề nông nghiệp, công nhân công nghiệp nặng, nghề mỏ, vận động viên thể thao, quân nhân thời kỳ luyện tập. - Lao động đặc biệt: Nghề rừng, nghề rèn.
Cách phân loại này chỉ có tính cách hướng dẫn , trong cùng một loại nghề nghiệp, tiêu hao năng lượng thay đổi nhiều tùy theo tính chất công việc 10 4. khái niệm Khẩu phần là lượng thực phẩm cần dùng cho một người trong 24 giờ để đảm bảo nhu cầu về năng lượng và vật chất cho cơ thể. Nhu cầu dư trong khẩu phần không thể xác định một cách tuyệt đối mà nó tùy thuộc vào đối tượng, sức lao động, tình trạng và sức khỏe.2 Tầm quan trọng của khẩu phần dinh dưỡng Dinh dưỡng là quá trình cung cấp năng lượng từ thức ăn và chuyển hóa năng lượng trong tế bào để nuôi dưỡng cơ thể. Dinh dưỡng chiếm một vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển cơ thể và giữ gìn sức khỏe của con người.
Trong y khoa, dinh dưỡng là một yếu tố liên quan đến hầu hết các chuyên khoa, giữ vai trò quan trọng không thể bỏ qua. Dinh dưỡng cho bệnh nhân cũng như các chế độ ăn phù hợp với các bệnh lý khác nhau đóng góp một phần đáng kể, đôi khi là phần chính yếu đến kết quả điều trị. Dinh dưỡng hợp lý còn có vai trò phòng ngừa bệnh và phục hồi sau bệnh. Để đảm bảo cho cơ thể phát triển tốt thì yếu tố hàng đầu là chế độ dinh dưỡng.
Một số công trình nghiên cứu cho thấy ăn uống hợp lý là yếu tố căn bản nhất cho sự tăng trưởng và phát triển. Năng lượng khẩu phần:Protein, lipid, glucid, vitamin và các yếu tố vi lượng cần được cung cấp đầy đủ và cân đối. Vì vậy, một khẩu phần ăn dinh dưỡng hợp lý theo từng lứa tuổi sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, phát triển và phòng chống bệnh tật. Giới Thiệu Về Đối Tượng Khảo Sát.
Vai trò dinh dưỡng đối với sinh viên: Lao động trí óc là một lao động đặc thù của loài người từ rất xa xưa, khi con người có tư duy sáng tạo. Sáng tạo nhất của tạo hóa là bộ não, đây là bước ngoặt to lớn trong quá trình tiến 11 hóa, biến con người thành một chủ thể sáng tạo, cần được bảo vệ. Hiện nay cứ khoảng 10 năm thì khối lượng thông tin đã vốn khổng lồ lại tăng gấp đôi, nhưng hoạt động của hệ thần kinh về mặt sinh học cũng như tốc độ truyền dẫn, khả năng tiếp thu, xử lý thông tin của não hầu như không đổi. Vì vậy,con người ngày nay đang sống trong tình trạng căng thẳng, cuộc sống luôn bị đè nặng bởi áp lực.
Sinh viên là đối tượng hoạt động não nhiều nhưng thiếu hoạt động. Cơ thể thiếu hoạt động là yếu tố nguy cơ vì hệ thống cơ chiếm 70% tổng số khối lượng cơ thể. Các tai biến như nhồi máu cơ tim và các rối loạn tim mạch khác ở mức độ nhất định đều liên quan đến tình trạng thiếu lao động chân tay kéo dài. Nhu cầu dinh dưỡng cho đối tượng đi học là cần thiết để làm thế nào để đáp ứng nhu cầu năng lượng tiêu hao vừa giúp cơ thể phát triển.
Vì vậy, tính cân đối trong khẩu phần dinh dưỡng là cơ sở của dinh dưỡng hợp lý. Mục đích khảo sát Vơi mục đích xác định mỗi liên quan giữa chất lượng cuộc sống và tình trạng sinh dinh dưỡng của sinh viên nữ năm ba Đại Học Công nghiệp thực phẩm hồ chí minh.Việc khảo sát tình trạng dinh dưỡng và thói quen sinh hoạt hàng ngày, được chọn ngẫu nhiên 10 nữ sinh viên năm ba để khảo sát đánh giá chung chất lượng cuộc sống của sinh viên nữ năm ba .Đưa ra những kết luận về mỗi quan hệ giữa sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng và hoạt động hàng ngày ,Từ đó có những biện pháp can thiệp phòng ngừa điều chỉnh cho phù hợp nằm nâng cao chất lượng cuộc sống sinh viên. Phương pháp khảo sất “nhắc lại 24h nhiều lần” 1. Giới thiệu về phương pháp Trong phương pháp này ,đối tượng kể lại tỷ mỉ những gì đã ăn ngày hôm trước hoặc 24 h trước khi phỏng vấn .người phỏng vấn cần được huấn luyện kỹ để có thể thu được thông tin chính xác về số lượng các thực phẩm (kể cả đồ uống )được đối tượng tiêu thụ.
Người phỏng vấn cần sử dụng những dụng cụ hỗ trợ (mẫu dụng cụ do lường, album ảnh món ăn ,cân thực phẩm .) để giúp đối tượng dễ nhớ ,dễ mô tả các kích cỡ thực phẩm đã được tiêu thụ và giúp cho quy đổi đơn vị đo lường ra gam. Số ngày điều tra đòi hỏi để đánh giá khẩu phần trung bình của đối tượng phụ thuộc vào mức độ chính xác cần đạt được ,chất dinh dưỡng cần quan tâm nghiên cứu ,chu kỳ thực phẩm và loại quần thể nghien cứu .một số tác giả khuyên rằng có thể điều tra trong thời gian 3 ngày liên tục. Nếu phương pháp chọn mẫu đảm bảo ngẫu nhiên và đại diện ,khoảng thời gian nghien cứu có chú ý tới ảnh hưởng của các ngày mà bữa ăn có thể được cải thiện hơn thường (ngày nghỉ 12 ,chủ nhật .)ảnh hưởng của mùa vụ .thì kết quả có thể cho ta đánh giá được mức độ tiêu thụ lương thực phẩm chính xác 2. Ưu điểm: Là một phương pháp rất thong dụng ,có giá trị áp dụng cho số đông đối tượng.
Đơi giản ,nhẹ nhàng đối với đối tượng nghiên cứu nên thường có sự hợp tác rất cao. Nhanh ,chi phí ít và có thể ấp dụng rộng rãi ngay cả với những đối tượng trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ. Nhược điểm: Phụ thuộc vào trí nhớ ,thái độ công tác của đối tượng và cách gợi vấn đề của diều tra viên. Hiện trượng trung bình hóa xẩy ra.
Không thể ấp dụng cho người có trí nhớ kém Khó ước lượng chính xác trọng lượng một số thực phẩm. Cách thu thập số liệu: Đối với điều tra viên :trước khi tiến hành điều tra cần xác định rõ mục đích ,ý nghĩa ,tầm quan trọng của cuộc điều tra .