Đặt vấn đề Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra rất mạnh mẽ, rất nhiều đô thị được chuyển từ đô thị loại thấp lên đô thị loại cao và nhiều đô thị mới được hình thành. Nếu năm 2000, nước ta có 649 đô thị thì năm 2005, con số này là 715 đô thị và đã tăng lên thành 755 đô thị lớn nhỏ vào giữa năm 2011. Dự báo, đến năm 2015 dân số đô thị là 35 triệu người chiếm 38% dân số cả nước, năm 2020 là 44 triệu người chiếm 45% dân số cả nước và năm 2025 là 52 triệu người chiếm 50% dân số cả nước [1]. Năm 2010, chỉ số phát sinh CTR đô thị ở Việt Nam là 1 kg/người/ngày.
Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 ÷ 16 % mỗi năm. Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%) [1]. Thành phố Đà Nẵng có tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với sự tăng dân số kéo theo lượng rác thải đô thị tăng nhanh. Thống kê dân số năm 2010 và năm 2016 tại thành phố Đà Nẵng (đơn vị: người) Quận (huyện) 2010 2016 Hải Châu 196.
Theo Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị Đà Nẵng trong tỷ trọng các loại chất thải thu gom được trên địa bàn thì chất thải sinh hoạt chiếm tỷ trọng trên 80%, còn lại là các loại chất thải công nghiệp, chất thải y tế không nguy hại và nguy hại. Vấn đề giảm thiểu CTR đang được thành phố quan tâm nhằm hướng đến “Thành phố môi trường”. Bên cạnh đó, tại 1 nhiều quốc gia, mô hình không phát thải rác (Zero Waste) được áp dụng, phát triển và đã đạt được nhiều kết quả. Trước nhu cầu thực tế đó chúng tôi đề xuất đề tài : “Khảo sát sự thay đổi thành phần chất thải rắn phát sinh tại hộ gia đình và đề xuất mô hình hướng đến không phát thải (Zero waste) tại thành phố Đà Nẵng” nhằm giảm thiểu lượng chất thải rắn ra môi trường và làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này về chất thải rắn.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Cung cấp thông tin khoa học về thành phần chất thải rắn tại hộ gia đình ở thành phố Đà Nẵng và mô hình không chất thải (Zero waste) nhằm giảm thiểu chất thải và góp phần quản lý chất thải rắn hiệu quả hơn. Mục tiêu cụ thể Khảo sát thành phần chất thải rắn tại các hộ gia đình 2 quận và huyện Hòa Vang ở thành phố Đà Nẵng. Đánh giá sự thay đổi thành phần chất thải rắn ở hộ gia đình tại thành phố Đà Nẵng.
Đề xuất mô hình không rác thải (Zero waste) tại thành phố Đà Nẵng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Ý nghĩa khoa học Đề xuất mô hình không rác thải áp dụng phù hợp với đặc điểm hộ gia đình tại thành phố Đà Nẵng. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu giúp đưa ra mô hình không rác thải hiệu quả, phù hợp với đặc điểm hộ gia đình.
Kết quả nghiên có thể được dùng để hỗ trợ các chương trình quản lý chất thải rắn của thành phố Đà Nẵng, làm cơ sở cho các nghiên cứu sau về chất thải rắn. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt 1. Định nghĩa chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [9].
Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại [4]. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm thực phẩm dư thừa và quá hạn sử dụng, chất dẻo, nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại,. Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau: khu dân cư, chợ, trường học, cơ quan, trung tâm du lịch thương mại,.
Thành phần rác thải sinh hoạt các đô thị ở Việt Nam Rác hữu cơ chiếm khoảng 60% thành phần rác thải sinh hoạt ở các đô thị Việt Nam, ngoài ra gồm có Giấy: 6%, nhựa: 16%, thủy tinh: 7%, kim loại: 2%, các thành phần khác: 9% [19]. Thành phần CTR sinh hoạt tại đầu vào của các bãi chôn lấp của một số địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Tp.71 [Nguồn: Báo cáo Nghiên cứu quản lý CTR tại Việt Nam, JICA, 3/2011] 3 Ở Việt Nam hiện nay, phương pháp xử lý thông thường với rác thải là chôn lấp. Ngoài ra còn có các phương pháp ủ phân compost, đốt rác ở nhiều nhà máy xử lý rác khác như ở Hội An, đảo Lý Sơn. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình thành phố Đà Nẵng Thành phần rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình ở Đà Nẵng có khoảng hơn 70% chất thải rắn từ thức ăn, hoa, cỏ, Giấy: 5%, Kim loại: 0.9%, nhựa, chất dẻo: 14%, thủy tinh: 1.1%, các thành phần khác: 5.
Trong đó rác hữu cơ chếm 70.8%, rác thải tái chế chiếm 13. Các hoạt động nông nghiệp và làm vườn ở ngoại ô thành phố làm tăng lượng hầu hết các loại chất thải, đặc biệt là chất thải hữu cơ. Một phần chất thải hữu cơ được người dân sử dụng làm phân bón hay để làm thức ăn nuôi gia súc [19]. Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt ở thành phố Đà Nẵng Mô hình quản lý chất thải rắn hiện nay ở Đà Nẵng là thu gom chung các thành phần rác thải và xử lý bằng công nghệ chôn lấp giống với các đô thị khác như Nam Sơn, Xuân Sơn (Hà Nội), Tràng Cát (Hải Phòng), Thủy Phương (Huế).
Mô hình thu gom CTR sinh hoạt tại thành phố Đà Nẵng: Hình 1. Mô hình thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt [Nguồn: Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng, 2017] 4 Tại 6 quận của thành phố, công tác thu gom rác thải được thực hiện hàng ngày, tỷ lệ thu gom rác tại khu vực nội thành đạt trên 97% khối lượng rác phát sinh trên địa bàn. Riêng huyện Hoà Vang, công tác thu gom CTR mới được thực hiện tại các khu dân cư nằm ven quốc lộ, tỉnh lộ và các chợ của xã [18]. Hệ thống thu gom CTR chưa đồng bộ, phương tiện thay đổi theo qui mô của khu vực thu gom dẫn đến vấn đề tồn đọng rác tại nhà dân và vỉa hè vì khó kiểm soát giờ giấc thu gom hay vấn đề rơi vãi rác trên các tuyến đường thu gom làm mất vệ sinh.
Một vấn đề lớn nữa là các trạm trung chuyển trước đây được bố trí xa khu dân cư nhưng với tốc độ đô thị hóa nhanh nên hiện phần lớn các trạm nằm trong khu dân cư, gây ô nhiễm mùi nghiêm trọng đến người dân sống xung quanh. Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt tại bãi rác Khánh Sơn: Xe thu gom rác Cân điện tử Phun chế phẩm khử mùi Đổ vào các hộc rác rá c Xử lý nước Nước San ủi rác rỉ rác Cầu rửa xe Xả thải Cân điện tử Điểm thu gom tiếp theo Hình 1. Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt tại bãi rác Khánh Sơn [Nguồn: Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng, 2015] Hiện nay công tác quản lý CTR chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tế, quản lý chất thải rắn ở Việt Nam đang cần cải thiện các vấn đề [16]: • Các hoạt động xử lý chất thải đô thị đang được cải thiện nhưng vẫn là một mối đe dọa đối với sức khoẻ và môi trường. 5 • Người dân chưa thực sự hiểu biết về chất thải rắn và cách phân loại chúng • Các quy định không được thi hành hiệu quả.
• Thiếu tài chính cho các hoạt động đe doạ tính bền vững xây dựng các chương trình quản lý chất thải rắn. • Người dân đóng vai trò hạn chế trong quản lý chất thải Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang gặp phải những khó khăn lớn. Việc triển khai chương trình phân loại rác tại nguồn đã được thực hiện nhiều lần nhưng do thiếu sự hợp tác từ phía cộng đồng và thiếu đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật từ hệ thống thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý chất thải chưa đồng bộ nên hiệu quả kinh tế còn hạn chế. CTR sinh hoạt của Đà Nẵng hiện nay sau khi thu gom đều được xử lý bằng công nghệ chôn lấp hiện thành phố có 1 bãi chôn lấp là bãi rác Khánh Sơn (quận Liên Chiểu), bắt đầu hoạt động từ năm 2000, hiện bãi rác Khánh Sơn hiện đã lấp đầy hơn 3/5 hộc chôn lấp rác thải đô thị.
Theo quy hoạch, bãi rác này sẽ đóng cửa vào năm 2020. Xử lý chất thải rắn và nước rỉ rác hiện đang chú trọng xử lý mùi hôi để không gây ảnh hưởng lớn đến dân cư xung quanh chưa được xử lý chất lượng triệt để. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần chất thải rắn Các mô hình tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế xã hội, môi trường và nhân khẩu học (Keser et al. Tăng thu nhập có thể làm cho mô hình tiêu dùng của người dân thay đổi, điều này có thể ảnh hưởng đến loại và số lượng chất thải [15]: Dân số: Sự gia tăng dân số làm khối lượng rác tăng lên, thành phần rác đa dạng hơn.
Thời điểm trong năm, trong tuần: Tùy vào mùa mưa hay mùa khô (trong tuần hay cuối tuần) mà lượng rác giảm hay tăng Điều kiện kinh tế xã hội: Tính bình quân người dân đô thị tiêu dùng năng lượng, đồ tiêu dùng, thực phẩm,. cao gấp hai đến ba lần người dân nông thôn kéo theo lượng rác thải của người dân đô thị cũng gấp hai đến ba lần người dân nông thôn. Thói quen và thái độ xã hội: Thói quen trong cách sử dụng sản phẩm, trong cách vứt bỏ và nhìn nhận về rác có ảnh hưởng đến thành phần, tính chất của rác. Thành phố Đà Nẵng Đà Nẵng là một thành phố thuộc Trung ương từ năm 1997, nằm trong vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam.
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.