Khảo Sát Cách Dùng Hư Từ Trong Lĩnh Nam Chích Quái

Chuyên khảo phân tích Khảo sát cách dùng một số hư từ trọng yếu trong lĩnh nam chích quái đề tài sinh viên nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Chuyên ngành

Văn Học Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học

2011

288
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lĩnh Nam Chích Quái và Hư Từ Cổ

Lĩnh Nam Chích Quái là một biên khảo quan trọng, tập hợp các truyện dân gian Lĩnh Nam. Tác phẩm này không chỉ có giá trị về mặt nội dung mà còn về mặt ngôn ngữ, đặc biệt là cách sử dụng hư từ. Nghiên cứu cách dùng hư từ trong Lĩnh Nam Chích Quái giúp hiểu sâu hơn về ngữ pháp tiếng Việt cổvăn bản Hán Nôm. Việc phân tích này mở ra hướng tiếp cận mới, đi sâu vào đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm. Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào dịch thuật và chú giải, ít có công trình chuyên sâu về cách dùng từ cổ, đặc biệt là hư từ. Do đó, việc khảo sát này có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung kiến thức về văn học trung đạilịch sử tiếng Việt.

1.1. Giới Thiệu Chung Về Lĩnh Nam Chích Quái

Lĩnh Nam Chích Quái được xem là một tổng tập mở đầu cho xu hướng sưu tầm, biên soạn và bảo tồn truyện dân gian, hoàn thành vào cuối thế kỷ XIV bởi tác giả Trần Thế Pháp. Tác phẩm không chỉ đặc sắc về mặt nội dung, mà còn có những điểm nổi bật về mặt văn tự, nghệ thuật. Công tác hiệu đính, chỉnh sửa và giới thiệu tác phẩm đã được thực hiện bắt đầu từ thế kỷ thứ XV. Tác phẩm này là một nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về văn hóangôn ngữ Việt Nam thời kỳ trung đại.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Hư Từ Trong Văn Bản Cổ

Hư từ đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các thành phần câu, biểu thị các quan hệ ngữ pháp và tạo nên sắc thái biểu cảm cho văn bản. Việc nắm vững ý nghĩa hư từtác dụng của hư từ giúp người đọc hiểu chính xác nội dung và phong cách của văn xuôi cổ. Trong Lĩnh Nam Chích Quái, hư từ được sử dụng một cách linh hoạt và đa dạng, phản ánh trình độ sử dụng ngôn ngữ tinh tế của tác giả.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Thiếu Khảo Sát Về Hư Từ Trong Lĩnh Nam

Mặc dù Lĩnh Nam Chích Quái đã được nghiên cứu và dịch thuật nhiều lần, nhưng việc phân tích văn bản cổ một cách hệ thống về cách dùng hư từ vẫn còn hạn chế. Các công trình hiện có thường tập trung vào nội dung truyện, lịch sử, hoặc giá trị văn hóa, mà ít chú trọng đến khía cạnh ngôn ngữ học. Điều này dẫn đến việc bỏ qua một phần quan trọng trong việc hiểu sâu sắc hơn về phong cách văn chươngđặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm. Việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về hư từ cũng gây khó khăn cho việc đọc hiểu và dịch thuật chính xác các văn bản Hán Nôm.

2.1. Các Nghiên Cứu Hiện Tại Về Lĩnh Nam Chích Quái

Các công trình nghiên cứu về Lĩnh Nam Chích Quái hầu hết đều có công tác phiên dịch và chú thích tác phẩm. Tuy vậy, tìm kiếm một công trình khảo sát về cách dùng hư từ hay giải thích ngữ pháp của tác phẩm đến nay vẫn chưa có. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giá trị lịch sử, văn hóa, hoặc nội dung các truyện kể, mà ít đi sâu vào phân tích ngôn ngữ.

2.2. Sự Cần Thiết Của Nghiên Cứu Về Cách Dùng Từ Cổ

Nghiên cứu về cách dùng từ cổ, đặc biệt là hư từ, là cần thiết để hiểu rõ hơn về cấu trúc và ý nghĩa của văn bản cổ. Điều này không chỉ giúp cho việc dịch thuật chính xác hơn mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa. Việc phân tích hư từ cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự phát triển của lịch sử tiếng Việt.

III. Phương Pháp Khảo Sát Cách Dùng Hư Từ Trong Lĩnh Nam Chích Quái

Để khảo sát cách dùng hư từ trong Lĩnh Nam Chích Quái, cần áp dụng phương pháp kết hợp giữa thống kê và phân tích. Đầu tiên, thống kê tần suất xuất hiện của các hư từ quan trọng trong tác phẩm. Sau đó, phân tích chức năng ngữ pháp và ý nghĩa hư từ trong từng ngữ cảnh cụ thể. Cần đối chiếu với các từ điển Hán Việt và các tài liệu tham khảo về ngữ pháp tiếng Việt cổ để đảm bảo tính chính xác. Đồng thời, cần xem xét hư từ trong mối tương quan với các thành phần khác của câu để hiểu rõ hơn về vai trò của chúng.

3.1. Thống Kê Tần Suất Xuất Hiện Của Hư Từ

Thống kê tần suất xuất hiện của các hư từ giúp xác định được những hư từ nào được sử dụng phổ biến và quan trọng trong Lĩnh Nam Chích Quái. Việc này cung cấp cơ sở dữ liệu để phân tích sâu hơn về chức năng và ý nghĩa của từng hư từ.

3.2. Phân Tích Chức Năng Ngữ Pháp Và Ý Nghĩa Hư Từ

Phân tích chức năng ngữ pháp của hư từ bao gồm việc xác định từ loại, vai trò trong câu (ví dụ: liên kết, bổ nghĩa, biểu thị quan hệ). Phân tích ý nghĩa hư từ là xác định ý nghĩa cụ thể của hư từ trong từng ngữ cảnh, dựa trên từ điển Hán Việt và kiến thức về ngữ pháp tiếng Việt cổ.

IV. Ứng Dụng Phân Tích Cách Dùng Hư Từ Chi Trong Lĩnh Nam

Trong Lĩnh Nam Chích Quái, hư từ 'chi' xuất hiện với tần suất cao và nhiều chức năng khác nhau. 'Chi' có thể là trợ từ kết cấu, đại từ, hoặc liên từ. Khi là trợ từ kết cấu, 'chi' thường đứng giữa định ngữ và trung tâm ngữ, biểu thị quan hệ sở hữu hoặc tu sức. Khi là đại từ, 'chi' thay thế cho người, vật, hoặc sự việc đã được đề cập trước đó. Việc phân tích cụ thể các trường hợp sử dụng 'chi' giúp làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ của văn bảný nghĩa của câu.

4.1. Chi Với Vai Trò Trợ Từ Kết Cấu

Khi 'chi' là trợ từ kết cấu, nó thường nối định ngữ và trung tâm ngữ, tạo thành cụm danh từ. Ví dụ: 'quân thần tôn ti chi tự' (trật tự tôn ti quân thần). Trong trường hợp này, 'chi' biểu thị quan hệ tu sức giữa 'quân thần tôn ti' và 'tự'.

4.2. Chi Với Vai Trò Đại Từ

Khi 'chi' là đại từ, nó thường thay thế cho một đối tượng đã được nhắc đến trước đó. Ví dụ, trong một câu chuyện kể về một vị vua, 'chi' có thể được sử dụng để chỉ vị vua đó mà không cần lặp lại danh hiệu.

V. Kết Luận Giá Trị Của Việc Nghiên Cứu Hư Từ Trong Văn Cổ

Nghiên cứu cách dùng hư từ trong Lĩnh Nam Chích Quái không chỉ có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ học mà còn về mặt văn hóa. Việc hiểu rõ ý nghĩa hư từ và chức năng của chúng giúp chúng ta tiếp cận gần hơn với tư duy và cách diễn đạt của người xưa. Đồng thời, nó cũng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa Việt Nam. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát sang các văn bản cổ khác để có cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử tiếng Việt.

5.1. Ý Nghĩa Về Mặt Ngôn Ngữ Học

Nghiên cứu hư từ giúp làm sáng tỏ cấu trúc và quy luật của ngữ pháp tiếng Việt cổ. Nó cũng cung cấp dữ liệu để so sánh và đối chiếu với ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, từ đó hiểu rõ hơn về quá trình phát triển của ngôn ngữ.

5.2. Ý Nghĩa Về Mặt Văn Hóa

Ngôn ngữ là một phần của văn hóa. Nghiên cứu cách dùng từ cổ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tư duy, phong tục, và quan niệm của người xưa. Nó cũng giúp chúng ta trân trọng và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống.

05/06/2025
Khảo sát cách dùng một số hư từ trọng yếu trong lĩnh nam chích quái đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2011

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 1. Tác giả Về phương diện tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái, cho đến hiện tại, quan niệm cho rằng Vũ Quỳnh và Kiều Phú là những người biên soạn đầu tiên đã được phủ định. Thay vào đó, dựa vào Vịnh Sử thi tập của Đặng Minh Khiêm và Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn có chép, thì tác giả Lĩnh Nam Chích Quái lục là Trần Thế Pháp. Trần Thế Pháp, tự là Thất Chi, người Thạch Thất, Hà Tây và hoàn toàn chưa rõ năm sinh, năm mất.

Có một số nhà nghiên cứu, cho rằng ông hoàn thành bộ Lĩnh Nam Chích Quái này vào cuối thế kỷ XIV. Năm biên soạn Căn cứ vào bài Tựa trong bản của Vũ Quỳnh, viết năm 1492 thì ông cũng không rõ năm biên soạn Lĩnh Nam Chích Quái. Nói như nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, tính từ năm 1492 trở về trước năm 1428 (là năm Lê Lợi lên ngôi), tình hình đất nước ổn định, và với một Nho sinh uyên bác, đỗ đạt như Vũ Quỳnh, không thể có trường hợp có một tài liệu nào về Lĩnh Nam Chích Quái tồn tại trong thời gian này mà không đến được tay của ông. Và, lại tính từ 1428 trở về trước năm 1407, tình hình đất nước loạn lạc khủng khiếp dưới sự đày đọa của quân Minh, tác phẩm cũng không thể có nhiều điều kiện ra đời.

Nói cách khác, trong lúc biến loạn, ít có khả năng xảy ra trường hợp một nhà nghiên cứu đi sưu tầm, trích lục lại các tác phẩm dân gian để làm tổng tập. Từ đó để thấy, Lĩnh Nam Chích Quái cũng không thể có mặt vào khoảng 1407 đến 1427. Như vậy, Lĩnh Nam Chích Quái chỉ ra đời từ những năm cuối nhà Hồ trở về trước Xét truyện Hà Ô Lôi, truyện thứ 21 trong tổng số 22 truyện thuộc bản hiệu đính của Vũ Quỳnh, có nói đến cột mốc thời gian năm Thiệu Phong thứ 6 (tức là 1346, đời Trần Dụ Tôn), xảy ra câu chuyện về đứa trẻ lạ kỳ Hà Ô Lôi; đem kết hợp với những luận điểm trên, có nhà nghiên cứu đã xác định năm ra đời của Lĩnh Nam Chích Quái là trong khoảng các năm 1346 đến 1407 1. Nội dung Lĩnh Nam Chích Quái có thể coi như một tổng tập văn học dân gian, mà nội dung chủ yếu là các mẩu chuyện lạ, giới hạn trong không gian vùng Lĩnh Nam.

7 Như tên gọi, Lĩnh Nam- chỉ phía nam vùng núi Ngũ Lĩnh, là nơi sinh sống, làm ăn của người Việt cổ. Chích Quái- có nghĩa là thu thập những mẩu chuyện quái lạ, hiếm thấy trong dân gian, mà chính sử không đề cập tới. Từ đó tựu trung lại, Lĩnh Nam Chích Quái là thu thập lại các câu chuyện dân gian trong khu vực vùng Lĩnh Nam xưa, không được khắc ghi trong bia, sử; nhưng lại được truyền giữ trong lòng người, tồn tại nhờ truyền miệng. Tác phẩm gồm 22 truyện, chia làm 2 quyển (căn cứ theo sự hiệu đính của Vũ Quỳnh).

Tình hình lưu trữ Hiện nay, Lĩnh Nam Chích Quái có tổng cộng là 11 bản, mà trong đó, 10 bản đã được lưu giữ ở Viện Hán Nôm, với các kí hiệu VHV1473, A2914, A33, A1200, A1300, A2107, A1752, A1266, A750, A1516,.Và 1 bản được lưu giữ ở Viện Sử học, với số kí hiệu là HV 486. Các bản HV486, VHV1473, A2914, là do Vũ Quỳnh biên tập, có phân thành 2 quyển; Đoàn Vĩnh Phúc thêm vào quyển 3 và phần tục biên. A33, A1200, A1300 tuy có phân thành 2 quyển, nhưng mục lục các tác phẩm lại khác nhau, hoặc có trường hợp số lượng tác phẩm lại không giống. Các bản còn lại, không phân quyển và nội dung có nhiều sai khác.

Trong đó, cổ nhất và được xác tín là bản do Kiều Phú biên soạn là HV486, VHV1473, A2914. Do đó, tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái mà chúng tôi khảo sát trong quyển Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San (越南漢文小說叢刊) chính từ trong 3 bản này mà có. Khái quát chung về việc sử dụng hư từ trong tác phẩm: Nhìn chung, tác phẩm sử dụng khá nhiều hư từ. Các hư từ được dùng khá linh hoạt với nhiều chức năng khác nhau.

Chúng tôi khảo sát 7 hư từ trọng yếu là: "chi", " dĩ", "kỳ", "sở", "giả", "ư", " vu" Hư từ xuất hiện nhiều nhất trong 22 bài của tác phẩm này là "chi", hư từ ít xuất hiện nhất là "giả". Ý nghĩa của hư từ rất linh hoạt, nó không có nghĩa từ vựng cụ thể, nhưng khi đứng trong câu nó lại có vị trí rất quan trọng và có năng lực biểu đạt về mặt ngữ pháp, mang ý nghĩa ngữ pháp rõ nét hơn ý nghĩa từ vựng. 8 CHƯƠNG 2: CÁCH DÙNG MỘT SỐ HƯ TỪ QUAN TRỌNG TRONG LĨNH NAM CHÍCH QUÁI. Chữ “chi” Trong quá trình khảo sát tác phẩm, chúng tôi nhận thấy chữ "chi" có tần số xuất hiện cao nhất, với những cách dùng như sau: - Chữ "chi" đóng vai trò một trợ từ, mà hầu hết là trường hợp chữ "chi" làm trợ từ kết cấu.

Bên cạnh đó, nó cũng có khi xuất hiện như một trợ từ hậu xuyết sau hình dung từ và động từ nội động hay một trợ từ đảo trang tân ngữ ra trước động từ. Một cách cụ thể hơn là + Khi làm trợ từ kết cấu, chữ "chi" thường đứng giữa định ngữ và trung tâm ngữ của một ngữ danh từ cố định; nhiệm vụ chính là nối kết hai thành phần này, đồng thời với việc biểu thị mối quan hệ có tính lãnh thuộc hay quan hệ có tính tu sức hạn chế giữa định ngữ và trung tâm ngữ, tạo nên kết cấu chính-phụ (trung tâm ngữ là chính, và định ngữ là phụ). Theo đó, khi biểu thị mối quan hệ lãnh thuộc, thường chữ "chi" bao gồm các phương diện: Định ngữ là người hay tổ chức có quyền sở hữu, quyền chi phối với trung tâm ngữ (lãnh thuộc sở hữu). Định ngữ là một chỉnh thể mà trung tâm ngữ sau chữ "chi" là bộ phận (lãnh thuộc chỉnh thể- bộ phận) Định ngữ và trung tâm ngữ có mối quan hệ nguồn gốc thân thuộc, hay quan hệ xã hội, nghề nghiệp (lãnh thuộc nguồn gốc thân thuộc) Định ngữ là người hay sự vật có thuộc tính được đưa ra ở trung tâm ngữ (lãnh thuộc thuộc tính hoạt động) Định ngữ biểu thị phương vị không gian cho trung tâm ngữ là người, sự vật hay một phương vị không gian khác (lãnh thuộc phương vị không gian) Và, khi chữ "chi", biểu thị mối quan hệ tu sức, sẽ bao gồm những phương diện sau: Định ngữ biểu thị sự tu sức về một đặc tính của trung tâm ngữ (tu sức đặc tính nói chung) 9 Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính tỷ dụ, so sánh cho trung tâm ngữ (tu sức tỷ dụ) Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính ước lượng cho trung tâm ngữ (tu sức lượng độ) Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính mục đích cho trung tâm ngữ (tu sức mục đích) Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính định danh cho trung tâm ngữ (tu sức định danh) + Khi làm trợ từ đảo trang, "chi" thường đưa tân ngữ ra trước động từ, mục đích chính là nhấn mạnh tân ngữ + Khi làm trợ từ hậu xuyết, chữ "chi" lại thường đứng sau một phó từ, hay hình dung từ (thường là những phó từ, hình dung từ biểu thị phạm vi, thời gian) nhằm nhấn mạnh tính trong, ngoài, lớn, nhỏ hay ngắn dài,….

Có khi, nó cũng đứng sau một động từ nội động, cũng đóng vai trò hậu xuyết, mà là bổ trợ về mặt ngữ âm. - Chữ "chi" còn đóng vai trò là một đại từ. Thường thì, khi đảm nhận nhiệm vụ này, nó thường đứng sau một động từ và làm tân ngữ cho động từ đó. Bao gồm có các loại đại từ :chỉ người, chỉ vật, chỉ sự, chỉ nơi chốn, nêu dẫn,… - Chữ "chi" còn có cách dùng đặc biệt, nó đứng giữa một cụm, mà nếu hoàn nguyên cụm ấy khi không có nó là một kết cấu Chủ-Vị.

Theo đó, chữ chi đứng giữa kết cấu Chủ - Vị ấy nhằm phá bỏ tính cố định của cụm, biến cụm Chủ- Vị hoạt dụng hơn và trở thành một ngữ, có thể đảm nhận một cách linh hoạt các thành phần trong câu. Trường hợp này, chúng tôi coi nó là một liên từ, gọi là liên từ thuận thừa. Bên cạnh đó, sẽ có lúc, chữ "chi" đứng giữa vị ngữ của một câu và bổ ngữ của vị ngữ ấy, nhằm mục đích bổ túc nghĩa cho bổ ngữ phía sau, chúng tôi vẫn coi đó là liên từ thuận thừa. - Và sau cùng, chữ "chi" còn đóng vai trò là một động từ, với nghĩa ngữ cảnh phải dịch là “đi” 2.1 “Chi” làm trợ từ Bài 1: Hồng Bàng thị truyện., 始有君臣尊卑之序,… (c7, T5 từ phải qua, tr 29 )  …, thủy hữu quân thần tôn ti chi tự,.

 …, mới có trật tự tôn ti quân thần,… - Trợ từ kết cấu, biểu thị quan hệ tu sức. 10 - Đứng giữa định ngữ 君臣尊卑 và trung tâm ngữ 序 nhằm biểu thị tu sức định danh giữa định ngữ và trung tâm ngữ. - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch. …, 父子夫婦之倫,…(c7, T5 từ phải qua, tr 29 )  …, phụ tử phu phụ chi luân,…  …, đạo cha con vợ chồng,… - Trợ từ kết cấu, biểu thị quan hệ tu sức.

- Đứng giữa định ngữ 父子夫婦 và trung tâm ngữ 倫 biểu thị mối quan hệ tu sức định danh giữa ngữ và trung tâm ngữ. - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch 3. …, 因思及祖帝明南巡接得仙女之事,… (c9, T6 từ phải qua, tr29 )  …, nhân tư cập tổ Đế Minh nam tuần tiếp đắc tiên nữ chi sự,…  …, nhân đó nhớ đến việc tổ Đế Minh tuần du phương nam và gặp tiên,… - Trợ từ kết cấu, biểu thị quan hệ tu sức - Đứng giữa định ngữ 祖帝明南巡接得仙女 và trung tâm ngữ 事 nhằm biểu thị quan hệ tu sức định danh giữa định ngữ và trung tâm ngữ - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch 4. …, 歌吹之聲達于行在。 (c12, T1 từ trái qua, tr 29 )  …., ca xuy chi thanh đạt vu hành tại  …, tiếng hát tiếng sáo vọng tới chỗ hành tại.

- Trợ từ kết cấu biểu thị quan hệ tu sức - Đứng giữa định ngữ 歌吹 và trung tâm ngữ 聲 để biểu thị mối quan hệ tu sức định danh giữa định ngữ và trung tâm ngữ - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch 5. …,謂為非常之兄弟 。(c19, T5 từ phải qua, tr 30 )  …, vị vi phi thường chi huynh đệ.  …, bảo nhau đó là những anh em phi thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Cách Dùng Hư Từ Trong Lĩnh Nam Chích Quái" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng hư từ trong tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam. Tác giả phân tích cách mà hư từ không chỉ tạo nên sắc thái ngữ nghĩa mà còn góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ và văn phong của tác phẩm. Độc giả sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của hư từ trong việc thể hiện cảm xúc và ý tưởng của nhân vật, từ đó nâng cao khả năng hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học đặc điểm ngôn ngữ trong tiêu đề các tác phẩm văn học của lỗ tấn ba kim lão xá và cách dịch sang tiếng việt, nơi khám phá đặc điểm ngôn ngữ trong tiêu đề tác phẩm văn học. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu phong cách nguyên hồng qua các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách sử dụng từ vựng trong văn học hiện đại. Cuối cùng, tài liệu Khẩu ngữ tự nhiên trong tuyển tập nam cao sẽ mang đến cái nhìn về ngôn ngữ tự nhiên trong tác phẩm của Nam Cao, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của bạn về ngôn ngữ và văn học Việt Nam.