CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 1. Tác giả Về phương diện tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái, cho đến hiện tại, quan niệm cho rằng Vũ Quỳnh và Kiều Phú là những người biên soạn đầu tiên đã được phủ định. Thay vào đó, dựa vào Vịnh Sử thi tập của Đặng Minh Khiêm và Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn có chép, thì tác giả Lĩnh Nam Chích Quái lục là Trần Thế Pháp. Trần Thế Pháp, tự là Thất Chi, người Thạch Thất, Hà Tây và hoàn toàn chưa rõ năm sinh, năm mất.
Có một số nhà nghiên cứu, cho rằng ông hoàn thành bộ Lĩnh Nam Chích Quái này vào cuối thế kỷ XIV. Năm biên soạn Căn cứ vào bài Tựa trong bản của Vũ Quỳnh, viết năm 1492 thì ông cũng không rõ năm biên soạn Lĩnh Nam Chích Quái. Nói như nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, tính từ năm 1492 trở về trước năm 1428 (là năm Lê Lợi lên ngôi), tình hình đất nước ổn định, và với một Nho sinh uyên bác, đỗ đạt như Vũ Quỳnh, không thể có trường hợp có một tài liệu nào về Lĩnh Nam Chích Quái tồn tại trong thời gian này mà không đến được tay của ông. Và, lại tính từ 1428 trở về trước năm 1407, tình hình đất nước loạn lạc khủng khiếp dưới sự đày đọa của quân Minh, tác phẩm cũng không thể có nhiều điều kiện ra đời.
Nói cách khác, trong lúc biến loạn, ít có khả năng xảy ra trường hợp một nhà nghiên cứu đi sưu tầm, trích lục lại các tác phẩm dân gian để làm tổng tập. Từ đó để thấy, Lĩnh Nam Chích Quái cũng không thể có mặt vào khoảng 1407 đến 1427. Như vậy, Lĩnh Nam Chích Quái chỉ ra đời từ những năm cuối nhà Hồ trở về trước Xét truyện Hà Ô Lôi, truyện thứ 21 trong tổng số 22 truyện thuộc bản hiệu đính của Vũ Quỳnh, có nói đến cột mốc thời gian năm Thiệu Phong thứ 6 (tức là 1346, đời Trần Dụ Tôn), xảy ra câu chuyện về đứa trẻ lạ kỳ Hà Ô Lôi; đem kết hợp với những luận điểm trên, có nhà nghiên cứu đã xác định năm ra đời của Lĩnh Nam Chích Quái là trong khoảng các năm 1346 đến 1407 1. Nội dung Lĩnh Nam Chích Quái có thể coi như một tổng tập văn học dân gian, mà nội dung chủ yếu là các mẩu chuyện lạ, giới hạn trong không gian vùng Lĩnh Nam.
7 Như tên gọi, Lĩnh Nam- chỉ phía nam vùng núi Ngũ Lĩnh, là nơi sinh sống, làm ăn của người Việt cổ. Chích Quái- có nghĩa là thu thập những mẩu chuyện quái lạ, hiếm thấy trong dân gian, mà chính sử không đề cập tới. Từ đó tựu trung lại, Lĩnh Nam Chích Quái là thu thập lại các câu chuyện dân gian trong khu vực vùng Lĩnh Nam xưa, không được khắc ghi trong bia, sử; nhưng lại được truyền giữ trong lòng người, tồn tại nhờ truyền miệng. Tác phẩm gồm 22 truyện, chia làm 2 quyển (căn cứ theo sự hiệu đính của Vũ Quỳnh).
Tình hình lưu trữ Hiện nay, Lĩnh Nam Chích Quái có tổng cộng là 11 bản, mà trong đó, 10 bản đã được lưu giữ ở Viện Hán Nôm, với các kí hiệu VHV1473, A2914, A33, A1200, A1300, A2107, A1752, A1266, A750, A1516,.Và 1 bản được lưu giữ ở Viện Sử học, với số kí hiệu là HV 486. Các bản HV486, VHV1473, A2914, là do Vũ Quỳnh biên tập, có phân thành 2 quyển; Đoàn Vĩnh Phúc thêm vào quyển 3 và phần tục biên. A33, A1200, A1300 tuy có phân thành 2 quyển, nhưng mục lục các tác phẩm lại khác nhau, hoặc có trường hợp số lượng tác phẩm lại không giống. Các bản còn lại, không phân quyển và nội dung có nhiều sai khác.
Trong đó, cổ nhất và được xác tín là bản do Kiều Phú biên soạn là HV486, VHV1473, A2914. Do đó, tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái mà chúng tôi khảo sát trong quyển Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San (越南漢文小說叢刊) chính từ trong 3 bản này mà có. Khái quát chung về việc sử dụng hư từ trong tác phẩm: Nhìn chung, tác phẩm sử dụng khá nhiều hư từ. Các hư từ được dùng khá linh hoạt với nhiều chức năng khác nhau.
Chúng tôi khảo sát 7 hư từ trọng yếu là: "chi", " dĩ", "kỳ", "sở", "giả", "ư", " vu" Hư từ xuất hiện nhiều nhất trong 22 bài của tác phẩm này là "chi", hư từ ít xuất hiện nhất là "giả". Ý nghĩa của hư từ rất linh hoạt, nó không có nghĩa từ vựng cụ thể, nhưng khi đứng trong câu nó lại có vị trí rất quan trọng và có năng lực biểu đạt về mặt ngữ pháp, mang ý nghĩa ngữ pháp rõ nét hơn ý nghĩa từ vựng. 8 CHƯƠNG 2: CÁCH DÙNG MỘT SỐ HƯ TỪ QUAN TRỌNG TRONG LĨNH NAM CHÍCH QUÁI. Chữ “chi” Trong quá trình khảo sát tác phẩm, chúng tôi nhận thấy chữ "chi" có tần số xuất hiện cao nhất, với những cách dùng như sau: - Chữ "chi" đóng vai trò một trợ từ, mà hầu hết là trường hợp chữ "chi" làm trợ từ kết cấu.
Bên cạnh đó, nó cũng có khi xuất hiện như một trợ từ hậu xuyết sau hình dung từ và động từ nội động hay một trợ từ đảo trang tân ngữ ra trước động từ. Một cách cụ thể hơn là + Khi làm trợ từ kết cấu, chữ "chi" thường đứng giữa định ngữ và trung tâm ngữ của một ngữ danh từ cố định; nhiệm vụ chính là nối kết hai thành phần này, đồng thời với việc biểu thị mối quan hệ có tính lãnh thuộc hay quan hệ có tính tu sức hạn chế giữa định ngữ và trung tâm ngữ, tạo nên kết cấu chính-phụ (trung tâm ngữ là chính, và định ngữ là phụ). Theo đó, khi biểu thị mối quan hệ lãnh thuộc, thường chữ "chi" bao gồm các phương diện: Định ngữ là người hay tổ chức có quyền sở hữu, quyền chi phối với trung tâm ngữ (lãnh thuộc sở hữu). Định ngữ là một chỉnh thể mà trung tâm ngữ sau chữ "chi" là bộ phận (lãnh thuộc chỉnh thể- bộ phận) Định ngữ và trung tâm ngữ có mối quan hệ nguồn gốc thân thuộc, hay quan hệ xã hội, nghề nghiệp (lãnh thuộc nguồn gốc thân thuộc) Định ngữ là người hay sự vật có thuộc tính được đưa ra ở trung tâm ngữ (lãnh thuộc thuộc tính hoạt động) Định ngữ biểu thị phương vị không gian cho trung tâm ngữ là người, sự vật hay một phương vị không gian khác (lãnh thuộc phương vị không gian) Và, khi chữ "chi", biểu thị mối quan hệ tu sức, sẽ bao gồm những phương diện sau: Định ngữ biểu thị sự tu sức về một đặc tính của trung tâm ngữ (tu sức đặc tính nói chung) 9 Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính tỷ dụ, so sánh cho trung tâm ngữ (tu sức tỷ dụ) Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính ước lượng cho trung tâm ngữ (tu sức lượng độ) Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính mục đích cho trung tâm ngữ (tu sức mục đích) Định ngữ biểu thị sự tu sức mang tính định danh cho trung tâm ngữ (tu sức định danh) + Khi làm trợ từ đảo trang, "chi" thường đưa tân ngữ ra trước động từ, mục đích chính là nhấn mạnh tân ngữ + Khi làm trợ từ hậu xuyết, chữ "chi" lại thường đứng sau một phó từ, hay hình dung từ (thường là những phó từ, hình dung từ biểu thị phạm vi, thời gian) nhằm nhấn mạnh tính trong, ngoài, lớn, nhỏ hay ngắn dài,….
Có khi, nó cũng đứng sau một động từ nội động, cũng đóng vai trò hậu xuyết, mà là bổ trợ về mặt ngữ âm. - Chữ "chi" còn đóng vai trò là một đại từ. Thường thì, khi đảm nhận nhiệm vụ này, nó thường đứng sau một động từ và làm tân ngữ cho động từ đó. Bao gồm có các loại đại từ :chỉ người, chỉ vật, chỉ sự, chỉ nơi chốn, nêu dẫn,… - Chữ "chi" còn có cách dùng đặc biệt, nó đứng giữa một cụm, mà nếu hoàn nguyên cụm ấy khi không có nó là một kết cấu Chủ-Vị.
Theo đó, chữ chi đứng giữa kết cấu Chủ - Vị ấy nhằm phá bỏ tính cố định của cụm, biến cụm Chủ- Vị hoạt dụng hơn và trở thành một ngữ, có thể đảm nhận một cách linh hoạt các thành phần trong câu. Trường hợp này, chúng tôi coi nó là một liên từ, gọi là liên từ thuận thừa. Bên cạnh đó, sẽ có lúc, chữ "chi" đứng giữa vị ngữ của một câu và bổ ngữ của vị ngữ ấy, nhằm mục đích bổ túc nghĩa cho bổ ngữ phía sau, chúng tôi vẫn coi đó là liên từ thuận thừa. - Và sau cùng, chữ "chi" còn đóng vai trò là một động từ, với nghĩa ngữ cảnh phải dịch là “đi” 2.1 “Chi” làm trợ từ Bài 1: Hồng Bàng thị truyện., 始有君臣尊卑之序,… (c7, T5 từ phải qua, tr 29 ) …, thủy hữu quân thần tôn ti chi tự,.
…, mới có trật tự tôn ti quân thần,… - Trợ từ kết cấu, biểu thị quan hệ tu sức. 10 - Đứng giữa định ngữ 君臣尊卑 và trung tâm ngữ 序 nhằm biểu thị tu sức định danh giữa định ngữ và trung tâm ngữ. - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch. …, 父子夫婦之倫,…(c7, T5 từ phải qua, tr 29 ) …, phụ tử phu phụ chi luân,… …, đạo cha con vợ chồng,… - Trợ từ kết cấu, biểu thị quan hệ tu sức.
- Đứng giữa định ngữ 父子夫婦 và trung tâm ngữ 倫 biểu thị mối quan hệ tu sức định danh giữa ngữ và trung tâm ngữ. - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch 3. …, 因思及祖帝明南巡接得仙女之事,… (c9, T6 từ phải qua, tr29 ) …, nhân tư cập tổ Đế Minh nam tuần tiếp đắc tiên nữ chi sự,… …, nhân đó nhớ đến việc tổ Đế Minh tuần du phương nam và gặp tiên,… - Trợ từ kết cấu, biểu thị quan hệ tu sức - Đứng giữa định ngữ 祖帝明南巡接得仙女 và trung tâm ngữ 事 nhằm biểu thị quan hệ tu sức định danh giữa định ngữ và trung tâm ngữ - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch 4. …, 歌吹之聲達于行在。 (c12, T1 từ trái qua, tr 29 ) …., ca xuy chi thanh đạt vu hành tại …, tiếng hát tiếng sáo vọng tới chỗ hành tại.
- Trợ từ kết cấu biểu thị quan hệ tu sức - Đứng giữa định ngữ 歌吹 và trung tâm ngữ 聲 để biểu thị mối quan hệ tu sức định danh giữa định ngữ và trung tâm ngữ - Nghĩa ngữ cảnh: không dịch 5. …,謂為非常之兄弟 。(c19, T5 từ phải qua, tr 30 ) …, vị vi phi thường chi huynh đệ. …, bảo nhau đó là những anh em phi thường.