Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1.Tình hình tiếp xúc song ngữ Hán - Việt 1.L Đặt van dé Từ xưa đến này, tiếp xúc song ngữ Hán - Việt là một cuộc tiếp xúc có quá trình lâu dài và có tình hình tiếp xúc khác nhau vào các thời kỳ khác nhau, dưới các bối cảnh ngôn ngữ xã hội vô cùng phức tạp, đan xen nhau. Đây chính là lý do tạo nên tính biến thể phong phú nhưng đa tạp về từ mượn Hán trong tiengs Việt. Với tình hình các từ mượn Hán trong tiếng Việt hiện tại rất phong phú.
đa tạp và sau khi trải qua nhiều thế kỷ lịch sử phát triển vẫn còn được hoạt động ở tất cả cấp độ của hệ thống tự vựng tiếng Việt. Qua đó mà chúng tôi có thể nghĩ đến việc trong quá trình tiếp xúc lịch sử lâu dài, hàng loạt từ vựng ngôn ngữ Hán nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt vào những thời kỳ lịch đại khác nhau. cho đến nay vẫn còn nhiều từ và dấu đích có liên quan được cùng tôn tại trong ngôn ngữ tiếng Việt hiện tại. Đi tìm nguồn gốc ban đầu và nhìn vào dòng lịch sử phát triển về sự tiếp xúc, du nhập, đồng hóa, biến thể và thực tế sử dùng của các từ mươn Hán trong tiếng Việt, chúng ta không thể không nhắc đến sự tác động của hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ xã hội.
Chúng ta còn có thể dễ dàng nhận thấy được các từ mượn Hán đã hòa nhập vào tiếng Việt và trở thành yếu tố nhập vào các tầng các lớp của hệ thống từ vựng tiếng Việt. Trong đó, đặc biệt âm hệ Hán - Việt là thành quả chính của sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Hán - Việt, còn dự trên nền đó mà hình thành hàng loạt từ Hán Việt. Bối cảnh lịch sử các thời kỳ của sự tiếp xúc song ngữ Hán — Liệt Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, có quan hệ mật thiết với nhau vê nhiêu mặt, núi liên núi sông liên sông, chung biên giới trên bộ và 13 trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, nên văn hóa hai nước tương thông. trong quá trình lịch sử phát triển, hai nước có quan hệ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, nên làm cho hai nước luôn có quan hệ vận mệnh tương quan.
Trong lịch sử nhân dân hai nước vốn có nguồn gốc tiếp xúc với nhau lịch sử lâu đời, sâu sắc, sự tiếp xúc với nhau luôn liên quan đến nhiều mặt như chính trị, văn hóa, lễ tục, giáo dục, ngôn ngữ, kinh té, quân sự., có thể kế từ lúc thời nhà Hán Trung Quốc, cho đến thế kỷ thứ X Việt Nam xây dựng và trở thành một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, trong nghìn năm đó khu vực miền bắc đến khu vực miền trung Việt Nam hiện nay luôn do các triều đại phong kiến lịch sử của Trung Quốc cai quản. Thời Hán, các phương thức sản xuất và lễ tục văn hóa Trung Nguyên Trung Quốc tùy theo lực lượng quân sự và chính trị của nhà Hán từ bắc xuống vào vùng Nam Việt, đồng thời cũng là qua đó mà tiếng Hán và chữ Hán cũng dần được nhập vào và phát huy tác dụng về nhiều mặt xã hội, hơn nữa chữ Hán trong hơn hai nghìn năm dòng lịch sử phát triển của Việt Nam sau đó đều là chữ viết chính thức được phía triều đình phong kiến của Việt Nam lựa chọn và sử dụng. Vào thời Hán, Hán Vũ Đế đã thiết chế chín quận (quận Nam Hải, Thuong Ngo, Uc Lam, Hop Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Đam Nhị, Châu Nha) ở vùng Nam Việt mà cùng chung thuộc bộ Thứ sử Giao Châu. Trong đó, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam ba quận cai quản những vùng đất mà đúng là thuộc miền Bắc, miền Trung và miều Nam của Việt Nam ngày nay.
Qua đó mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, thời đó đã có một mối quan hệ về mặt xã hội, văn hóa, ngôn ngữ, chín trị giữa hai bên, cũng do đó mà tạo nên một giai đoạn tiếp xúc sơ kì song ngôn ngữ văn hóa giữa Hán cổ và Việt Cổ. Sau đó chính phủ cai trị vùng Giao Chỉ thuộc chính quyền Đông Hán thành lập các trường học dạy chữ Hán và các thứ lễ tục văn hóa Trung Nguyên đê truyên bá ngôn ngữ văn hóa mà thực hiện hiệu quả tôt cho việc cai 14 quản, tùy theo sự tiếp xúc giữa các phương diện xã hội, chính trị, quân sự, văn hóa, ngôn ngữ. làm cho cuộc tiếp xúc song ngôn ngữ văn hóa giữa Hán và Việt thêm một bước mở rộng. Đến lúc những năm cuối thời Đông Hán.
trật tự xã hội đại loạn, nhiều cuộc chiến tranh nỗ ra, hàng loạt người kẻ sĩ và người kiếm sống xuống vào khu Giao Chỉ tị nạn, trong đó có nhiều người lập trường dạy học và viết sách phát biểu quan điểm, cũng vì thế mà chữ Hán và văn hóa Hán được truyền bá một cách nhanh chóng. Cho đến thời Tùy Đường, một thời kỳ phôn thịnh cực kỳ của xã hội phong kiến Trung Quốc. Vào thời đó, chính phủ trung ương nhà Đường thực hiện sự cai quản một cách rất có hiệu quả đối với khu Giao Chỉ, chế độ khoa cử được thực thi ở vùng đất Giao Chỉ để đào tạo quan lại địa phương. Những nguyên nhân đó làm cho mức độ tiếp xúc và ảnh hưởng của ngôn ngữ văn hóa Hán đối với ngôn ngữ văn hóa Việt được nâng cao, cũng làm cho địa vị của chữ Hán ở vùng đất Giao Chỉ cũng được nâng cao nhiều, mà phạm vi sử dụng của chữ Hán cũng được mở rộng từ tầng lớp các sĩ đại phu, quan trường đi vào đời sống xã hội dân gian người bản xứ.
Dưới cảnh huống ngôn ngữ đó, ngôn ngữ Hán nhờ chữ Hán làm phương tiện truyền đạt truyền vào Việt Nam theo một cách mang tính hệ thống, đồng thời có được sự tiếp XÚC VỚI tiếng Việt theo một cách mang tính hệ thống, cũng do đó mà có được một sản phẩm đặc biệt gọi là cách đọc Hán - Việt ra đời. Nói đến đây thì phải nhắc đến một khái nhiệm quan trọng là âm Hán - Việt. Âm Hán - Việt đúng là một bộ âm đọc chữ Hán được truyền vào Việt Nam theo một cách mang tính hệ thống vào thời trung cổ, sau đó mặc dù đã trải qua sự phát triển và các biến thể hơn nghìn năm mà vẫn giữ được sự đối ứng chặt chẽ về hệ thống thiết vận một cách cơ bản. Thời đó, tùy theo lực lượng chính trì, quân sự có nhiều nét văn hóa phương Bắc (Trung Quốc) được truyền vào Việt Nam.
Còn thời đó, theo gốc nhìn phía Việt Nam, trong suốt thời kì “Băc thuộc”. chữ Hán là ngôn ngữ 15 Trung Quốc được dạy và dùng trong nhà trường, còn được dùng trong khắp nơi xã hội như nhà chùa, thờ cúng tô tiên, sáng tác văn học, trong ghi chép giấy tờ hàng ngày. Hơn nữa, cũng là do nguyên nhân chính trì, quân sự, xã hội, người Hán dân dần nhập vào hầu hết các hoạt động quan trọng của đời sống xã hội Việt Nam. Chính về thế, ở vùng đất Giao Chỉ, người Hán và người Việt có một cách tiếp xúc rất mật thiết ở chung một môi trường xã hội, mà tiếng Hán và tiếng Việt cũng có được sự tiếp xúc tự nhiên, mật thiết và sâu rộng, chúng ta có thể qua âm hệ Hán - Việt mà nhận thấy được những nét dấu ấn của sự tiếp xúc đó.
Như vậy, có thể nhận thất được đó chính là tiếng Hán và tiếng Việt đều có được sử dùng trong cảnh huông ngôn ngữ của xã hội Việt Nam thời kì đó. Có thể song ngữ tiếng Hán và tiếng Việt vào thời kì đó được sử dụng một cách bắt bình đăng, tiếng Hán là ngôn ngữ có chữ viết được dùng làm ngôn ngữ chính thức của nhà nước, ngôn ngữ hành chính, khoa cử, văn chương, tiếng Việt là ngôn ngữ của người dân trong giao tiếp khẩu ngữ hàng ngày. Dưới cảnh huống ngôn ngữ như thế, cách đọc Hán - Việt và hệ thống âm Hán - Viét dan dan được hình thành. Thông qua những cứ liệu lịch sử liên quan của hai nước và những tài liệu có liên quan đến bối cảnh hình thành của âm Hán-Việt được ghi chép trong sách sử cổ và trong một số tác phẩm của các nhà ngôn ngữ học và học giả đi trước, qua đó chúng tôi tập trung bàn về các nguyên nhân đã dẫn đến sự tiếp xúc văn hóa Hán của người Việt, như sự thống trị về chính trị của các tập đoàn phong kiến Trung Nguyên, hoặc các cuộc Nam hạ di cư lánh nạn của trí thức người Hán; đồng thời qua phân tích các cứ liệu lịch sử và tính chất của hệ thống ngữ âm âm Hán - Việt, chúng tôi đã đưa ra một số kết luận xung quanh sự hình thành của âm Hán - Việt: một là chữ Hán phải được truyền vào Việt Nam rất sớm cùng với sự Nam tiễn của người Hán và âm Hán-Việt phải được hình thành sớm hơn so với thời điểm giành 16 được độc lập của Việt Nam, tức phải từ thời Trung Đường hoặc sớm hơn.33] Cho nên, với cách nhìn như thế, chúng tôi có thể thấy được tiếng Hán ở Việt Nam vào thời đó với tư cách là một sinh ngữ được một bộ phận người Việt Nam thuộc tầng lớp trong chính quyền, thân chính quyền học.
Sau khi Việt Nam xây dựng và trở thành một quốc gia phong kiến độc lập và tự chủ thì hệ thống âm Hán - Việt cũng thoát khởi sự ảnh hưởng của ngôn ngữ Hán thuộc vùng Trung Nguyên Trung Quốc, sau đó thì không có diễn biến theo sự phát triển của ngôn ngữ Hán, cũng do đó mà về cơ bản giữ được sự lề lối âm hệ đối ứng với ngôn ngữ Hán thời trung cổ. Từ thế kỷ thứ X Công nguyên, Việt Nam thoát khỏi sự cai quản của chính phủ trung ương, xây dựng và trở thành một quốc gia phong kiến, sau đó, sự tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt cũng bước vào một giai đoạn mới. Do nguyên nhân chính tri sinh ra sự tách rời về mặt địa lý không gian, vì thế mà sự tiếp xúc giữa tiếng Hán của vùng Trung nguyên và tiếng Việt chỉ được thông qua những phương tiện gián tiếp như phiên dịch tài liệu lịch sử, thư tín đi lại mà tiễn hành, cho nên có những học giả coi sự tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt vào thời đó là một trạng thái có sự tiếp xúc với nhau phi tự nhiên.