CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHÁNG NGHỊ QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM 1. Khái quát chung về kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm 1. Khái niệm kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm Xuyên suốt từ khi các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự nói chung của nước ta được ban hành và áp dụng vào thực tiễn cho đến nay có thể thấy vấn đề kháng nghị là một quy định mà trong tất cả các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự đều có đề cập. Cụ thể như trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự của Hội đồng Nhà nước về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm”1; tại Điều 250 Bộ luật TTDS năm 2004 quy định: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” hay tại Điều 278 Bộ luật TTDS năm 2015 quy định: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”.
Từ những quy định về kháng nghị nói trên có thể thấy pháp luật TTDS quy định về việc kháng nghị theo dạng khẳng định đây là một quyền của một cơ quan đó là VKSND, ngoài ra chưa có quy định nào định nghĩa khái niệm về kháng nghị là gì? Kháng nghị được hiểu như thế nào? Tìm hiểu sang các Bộ luật, Luật quy định về tổ chức bộ máy mà cụ thể là Luật TCVKSND thì có thể thấy tại Điều 22 Luật TCVKSND năm 2002 quy định: 1 Khoản 2 Điều 58 Pháp lệnh số 27 năm 1989 9 “Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ án; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự”; Tại Điều 5 Luật TCVKSND năm 2014 thì kháng nghị được quy định cụ thể hơn: “Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”. Có thể thấy được ngay cả Luật TCVKSND cũng không có định nghĩa rõ khái niệm thế nào là kháng nghị mà chỉ quy định về các trường hợp mà Viện kiểm sát phải kháng nghị. Như vậy, qua tìm hiểu các văn bản pháp luật TTDS, Luật TCVKSND năm 2002 và năm 2014 thấy rằng cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào có quy định khái niệm pháp lý về kháng nghị.
Dưới góc độ lập pháp, một vấn đề quan trọng cần được đặt ra khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật là các quy định phải rõ nghĩa, dễ hiểu, dễ tiếp cận nhằm đảm bảo việc tuyên truyền phổ biến pháp luật đến từng dân được thuận lợi, đảm bảo mọi người dân đều biết và hiểu để chấp hành pháp luật. Chính vì vậy, việc không quy định cụ thể khái niệm pháp lý về kháng nghị có lẽ là một thiếu sót của nhà làm luật. Thực tiễn cho thấy, ngay cả các công chức công tác pháp luật cũng khó giải thích cho một người dân bình thường hiểu thế nào là kháng nghị và chính cụm từ kháng nghị cũng thực sự không dễ hiểu. 10 Theo Từ điển Luật học định nghĩa thì có 03 khái niệm về kháng nghị gồm “Kháng nghị; Kháng nghị bản án, quyết định dân sự và Kháng nghị của Viện kiểm sát”.
Cụ thể: “Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án. Kháng nghị bản án, quyết định dân sự là hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền phản đối bản án, quyết định dân sự, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét xử lại, có ý nghĩa nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát, giám đốc việc xét xử, bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án dân sự được đúng đắn. Kháng nghị của Viện kiểm sát là việc Viện kiểm sát khi thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, gửi văn bản đến Tòa án có thẩm quyền làm ngừng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định đó để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bảo đảm cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Kháng nghị là quyền theo luật định, đồng thời là một trong những hoạt động chủ yếu của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát tư pháp.
Việc kháng nghị của Viện kiểm sát được thực hiện ở mọi cấp xét xử. Theo đó, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm.2” Qua nghiên cứu các quy định, định nghĩa về kháng nghị nêu trên, tác giả luận văn tổng hợp và đưa ra một khái niệm mới về việc kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm như sau: 2 Nguyễn Đình Lộc, Uông Chu Lưu, Hoàng Thế Liên & các cộng sự (Biên soạn, 2006), Từ điển luật học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 11 Kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm là việc Viện kiểm sát không đồng ý với một phần hoặc toàn bộ quyết định, bản án dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nó được thể hiện thông qua một văn bản có giá trị pháp lý làm ngưng việc sẽ có hiệu lực của quyết định, bản án dân sự sơ thẩm và làm phát sinh thêm một giai đoạn phúc thẩm để xem xét về quyết định, bản án dân sự sơ thẩm đó. Đặc điểm của kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp…” với hai chức năng được hiến pháp quy định một là thực hành quyền công tố, hai là kiểm sát hoạt động tư pháp. Như vậy, VKSND có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
Thông qua chức năng kiểm sát, mọi hoạt động của khối cơ quan tư pháp trong đó có Tòa án đều được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, nó không chỉ nhằm kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của chính các cơ quan nhà nước nói chung và với từng cán bộ, công chức nói riêng mà nó còn thể hiện quyền lực chế ước trong tổ chức bộ máy của nước ta, phù hợp với Hiến pháp và chế độ chính trị của nước ta. Trong những năm qua, VKSND đã làm rất tốt chức năng kiểm sát của mình, đã phát hiện rất nhiều vi phạm trong lĩnh vực dân sự. Bên cạnh những quyền kiểm tra, giám sát và nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng của Viện kiểm sát thì pháp luật quy định những quyền hạn cho phép VKSND được xử lý khi phát hiện sai phạm, đảm bảo kiểm soát quyền lực tư pháp, kịp thời chế ước nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cho việc pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất. Vì vậy, đặc quyền được pháp luật quy định cho VKSND thực hiện khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng và cũng là quyền quan trọng nhất trong việc thực hiện chức năng của mình đó là quyền kháng nghị.
Đây được coi là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, chỉ có VKSND mới có quyền kháng nghị phúc thẩm 12 đối với quyết định, bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án. Đây cũng là đặc điểm mang đậm những yếu tố gắn liền với VKSND. Trên cơ sở lý luận chung về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có thể rút ra các đặc điểm của kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm như sau: Thứ nhất, kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm là nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND. Đây là được xem là một quyền năng pháp lý quan trọng mà Nhà nước chỉ giao cho ngành Kiểm sát nhân dân, ngoài ra không còn cơ quan nào khác có quyền kháng nghị quyết định, bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án.
Thứ hai, kháng nghị là công cụ để đảm bảo tính chế ước trong tổ chức quyền lực Nhà nước. Trong lĩnh vực giải quyết các việc dân sự, vụ án dân sự, quyền lực tư pháp của Tòa án nhân dân là rất lớn. Có thể thấy đối với nước hiện nay, lực lượng bổ trợ tư pháp như Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý vẫn còn hạn chế và mặc dù trình độ hiểu biết pháp luật của người dân đã được nâng lên nhưng vẫn chưa đảm bảo thực hiện các quyền công dân theo quy định. Chính vì vậy, tránh lạm quyền, tiêu cực trong việc từ khâu thụ lý đến khi kết thúc các vụ việc dân sự của Tòa án thì vấn đề cần đặt ra là phải có một thiết chế để kiểm soát quyền lực tư pháp.