CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về văn hóa (Culture) Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Tylor (1871), văn hoá là một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được. Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD- ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr.
1796] thì văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới.
(5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai. Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tạo ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”. Khi nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.2 Văn hóa doanh nghiệp Theo Geert Hofstede, “Văn hóa tổ chức là lập trình tâm thức có tính khu biệt giữa các thành viên của một tổ chức này với thành viên của tổ chức khác”. Định nghĩa của Edgar. Schein, “Văn hóa doanh nghiệp là một mô hình của những quan niệm ẩn (giả định ngầm) được chia sẻ - được sáng tạo, khám phá và phát triển bởi doanh nghiệp khi họ học cách ứng phó và thích ứng với môi trường bên ngoài và hợp nhất nguồn nhân lực nội bộ - nó được xem là phương thức hoạt động hiệu quả và có đủ hiệu lực để truyền đạt cho những thành viên mới như là cách thức ứng xử đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ, cảm nhận đối với những vấn đề tương tự”.2 Các lớp (cấp độ) của văn hóa doanh nghiệp Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp gồm 3 lớp (levels) Lớp 1: Tạo tác hữu hình (artifacts): đồng phục, bảng tên, bài hát, lịch, danh thiếp, nghi thức, nghi lễ, những điều cấm kị, cam kết, câu chuyện kể,… Đây chính là biểu hiện bề nổi, quá trình hay cấu trúc hữu hình. Lưu ý: Tất cả các khái niệm trên có liên quan đến hoặc phản ánh văn hóa ở chỗ chúng nó có liên quan đến những thứ mà các thành viên của nhóm nhìn chung đều chia sẻ.
Tuy nhiên, không có yếu tố nào kể trên là văn hóa của tổ chức cả. Lớp 2: Các giá trị được tán thành, đồng thuận (espoused values): sứ mạng, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, chiến lược, mục tiêu, triết lý, hành vi chuẩn mực. • Các giá trị chia sẻ của công ty khởi đầu từ niềm tin, quan niệm giá trị của người sáng lập hoặc của người lãnh đạo nối tiếp: cho rằng điều gì là đúng, hiệu quả trong quản trị công ty. • Được áp dụng trong công ty, được thử thách, chứng minh trên thực tế là đúng, là hiệu quả.
• Sau đó được chia sẻ trong toàn bộ công ty và trở thành quan niệm ẩn. • Sau đó thể hiện ra các chuẩn mực về hành xử toàn công ty. Tieu luan Lớp 3: Các quan niệm ẩn, giả định ngầm (shared tacit assumptions) • Các quan niệm giá trị (values), niềm tin (beliefs) và các quan niệm ẩn (assumptions) của người sáng lập công ty và của những vị lãnh đạo nối tiếp đã ấn (impose) vào công ty. • Những cái nào qua quá trình hoạt động thực tiễn tỏ ra là thành công thì sẽ được chia sẻ cho toàn thể nhân viên và mặc nhiên (taking for granted) trở thành các quan niệm ẩn của công ty (shared tacit assumptions).
• Đến lượt mình thì các giá trị, niềm tin của người sáng lập lại chịu ảnh hưởng bởi tính cách (personality) của họ và bởi các giá trị văn hóa nằm sâu hơn. Đó chính là các quan niệm ẩn xuất phát từ văn hóa dân tộc và những quan niệm được đúc kết, khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn kinh doanh thành công của lãnh đạo.3 Hàm ý của ba lớp văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp có thể được nhận dạng và giải mã qua nhiều lớp hay tầng nấc như thế cho nên để xây dựng văn hóa doanh nghiệp không nên đồng nhất và chỉ nghiên cứu ở những biểu hiện bề nổi: các tuyên bố sứ mệnh, tầm nhìn, logo, khẩu hiệu, đồng phục, bài hát hay những nguyên tắc ứng xử mà hơn thế nữa, cần thiết phải đi vào thực chất, những biểu hiện chiều sâu… Nếu doanh nghiệp chỉ có những thứ trên rất hay rất kiêu nhưng lãnh đạo không thể hiện là người thật sự có tầm và có tâm, nói không đi đôi với làm, tư lợi, thiếu công bằng, trù dập nhân viên… thì các hoạt động xây dựng văn hóa doanh nghiệp hoàn toàn phản tác dụng. “Không bao giờ có nền văn hóa doanh nghiệp tốt nếu nó không được khởi nguồn từ những người lãnh đạo tốt”. Tieu luan CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP STARBUCKS 2.1 Lịch sử hình thành Starbucks hiện là công ty cà phê lớn nhất thế giới.
Sáng lập vào năm 1971 bởi ba sinh viên Jerry Baldwin, Zev Siegl và Gordon Bowker quen nhau ở đại học San Francisco. Baldwin và Siegl sau đó trở thành giáo viên còn Bowker là một nhà văn. Mọi việc thay đổi khi Alfred Peet, chủ sở hữu của Peet’s Coffee and Tea đã dạy cả ba về cách rang hạt cà phê. Điều này đã khuyến khích Baldwin, Siegl và Bowker kinh doanh cà phê.
Thời gian đầu họ mua hạt cà phê từ cửa hàng của Peet, nhưng đến năm 1984, họ đã mua lại cả Peet’s Coffee and Tea. Tuy nhiên, hiện nay cả ba không còn làm việc ở Starbucks, họ đã bán cổ phần của mình ở nhiều thời điểm khác nhau. Ban đầu, hãng dự định lấy tên là Pequod, lấy cảm hứng từ tiểu thuyết Moby-Dick. Tuy nhiên, sau khi cái tên bị từ chối bởi một trong những người đồng sáng lập, hãng được đặt tên là Starbucks, một nhân vật trong tiểu thuyết trên.
Tieu luan Cửa hàng đầu tiên của Starbucks ở số 2000 Western Avenue, Seattle, Washington được mở cửa vào ngày 30/03/1971. Điều đáng ngạc nhiên là cửa hàng không bán cà phê pha sẵn, theo dự định ban đầu của những người sáng lập, họ chỉ bán hạt cà phê rang và những thiết bị pha chế nó. Trên thực tế, những mẫu cà phê pha sẵn trong cửa hàng chỉ là mẫu miễn phí tặng kèm để khuyến khích khách hàng mua hạt cà phê và các thiết bị pha. Howard Schultz - Chủ tịch và CEO Starbucks là tỷ phú tự thân tạo nên cuộc cách mạng trong ngành cà phê ở Mỹ.
Ông đưa Starbucks trở thành thương hiệu quốc tế trải rộng ở 75 quốc gia với 27. Tài sản của ông ước tính 3 tỷ USD. Tieu luan Schultz sinh năm 1953 tại Brooklyn, New York trong một gia đình có bố mẹ đều dang dở việc học. Bởi xuất thân nghèo khó, thuở nhỏ, ông không bao giờ tưởng tượng có một ngày sẽ trở thành đầu tàu của chuỗi cà phê xuyên biên giới và trở thành người giàu có.
Lúc 7 tuổi, Schultz về nhà và thấy bố nằm trên ghế với vết thương từ hông đến mắt cá chân. Ông là cựu chiến binh và lái xe tải. Bố Schultz bị thương khi đang làm việc nhưng lại không có tiền bồi thường dành cho công nhân, không có hợp đồng và cũng không có bảo hiểm y tế. Ông mất khả năng làm việc sau tai nạn đó và hoàn toàn không nhận được khoản trợ cấp nào.
Người bố qua đời vài năm sau. Schultz vẫn nhớ rõ những hình ảnh cuối cùng của người bố. “Tôi chứng kiến những rạn nứt của giấc mơ Mỹ và nhìn thấy bố mẹ mình đi từ thất vọng đến tuyệt vọng. Những vết sẹo, tất cả tủi hổ đó thậm chí vẫn đeo bám tôi cho đến tận ngày hôm nay”, ông kể.
Từ đó, Schultz quyết tâm phải thoát nghèo và thay đổi số phận. Mẹ khuyến khích ông theo đuổi giáo dục để mở ra những cánh cửa mới. Thời cấp ba, Schultz chơi bóng đá khá tốt và kiếm được học bổng thể thao để gia nhập Đại học Bắc Michigan. Tuy nhiên, khi học ở trường, ông quyết định không chọn thể thao là mục tiêu của cuộc đời.
Ông tham gia nhiều công việc lặt vặt trong trường. Để có tiền học, ông làm đủ công việc như nhân viên pha chế, thậm chí còn bán máu. Sau khi ra trường, Schultz làm việc tại một nhà nghỉ trượt tuyết ở Michigan. Ông cũng làm nhân viên bán hàng cho công ty Xerox và một cửa hàng bán đồ dùng gia đình có tên Hammarplast.
Tại đây, ông từng bước vươn lên vị trí phó chủ tịch và tổng giám đốc, dẫn dắt đội ngũ bán hàng. Dù ngày càng thành công nhưng ông luôn tự hỏi mình nên làm gì tiếp theo. Schultz lần đầu biết đến Starbucks thời còn làm cho Hammarplast. Thương hiệu cà phê lúc này có 4 cửa hàng tại Seattle.
Họ gây chú ý cho ông khi đặt mua số lượng lớn máy pha cà phê nhỏ giọt. Cảm thấy thích thú, vị doanh nhân đến Seattle để tìm gặp hai đồng sáng lập công ty này là Gerald Baldwin và Gordon Bowker. Ông ngay lập tức bị cuốn vào niềm đam mê của hai người đối diện. Họ tạo ấn tượng mạnh bởi dũng cảm bán một sản phẩm nằm trong ngách rất nhỏ của những người sành cà phê.
6 Tieu luan Schultz nghĩ mình nhất định phải gia nhập Starbuck, bất chấp đối diện tương lai phải liên tục di chuyển khắp nơi và chấp nhận mức lương thấp hơn. Nhưng ông vô cùng hào hứng với quyết định của mình và không bao giờ cảm thấy hối tiếc. Tuy nhiên, phải mất một năm, Schultz mới thuyết phục được Baldwin thuê ông về làm giám đốc tiếp thị cho công ty.