Chương I NHỮNG YẾU TỐ TẠO NÊN TÍNH “THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG” I. Điều kiện tự nhiên Đông Nam Á Con người sinh ra và lớn lên trong tự nhiên, được tự nhiên nuôi dưỡng cho nên con người luôn luôn gắn bó với tự nhiên. Chính vì thế, “mối quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng là một mặt cơ bản của đời sống văn hóa” (Trần Quốc Vượng, 1997: 17). Có thể nói, theo cách nói của Mai Ngọc Chừ: “điều kiện tự nhiên, môi trường tự nhiên của một khu vực chắc chắn có một ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn hóa của con người trong khu vực đó” (Mai Ngọc Chừ, 1999: 15).
Chính vì vậy, trước khi đi vào các mặt của đời sống văn hóa, chúng ta lại bắt đầu từ điều kiện tự nhiên của khu vực. Vị trí địa lý Trên bản đồ thế giới, Đông Nam Á nằm trong một phạm vi khá rộng phía đông nam lục địa Á - Âu. Xét về mặt địa lý tự nhiên, diện tích Đông Nam Á khoảng 4,5 triệu km2, trải ra trên một không gian khá rộng (bao gồm cả biển và đất liền), nằm trong cùng một phạm vi khoảng từ 920 đến 1400 kinh Đông, và khoảng từ 280 vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến 150 vĩ Nam, như một “ngã tư đường” của các châu lục lớn. Khu vực này gồm hai bộ phận: bán đảo Trung - Ấn và quần đảo Mã Lai, là một quần thể gồm: các đảo, bán đảo, quần đảo và các vịnh trong vùng biển xen kẻ với nhau rất phức tạp chạy dài suốt từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương, với sự phân tán của những quần đảo uốn cong có số lượng đảo nhiều và lớn nhất thế giới (chủ yếu ở hai quốc gia Inđônêxia, Philippin).
Chính vì thế, đã tạo cho Đông Nam Á có một vị trí chiến lược quan trọng, vừa nằm giữa và gần hai quốc gia rộng lớn, với hai nền văn minh lâu đời, rực rỡ vào bậc nhất châu Á và thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, vừa gần với cường quốc kinh tế Nhật Bản, nằm trên tuyến đường biển quốc tế quan trọng, giữa châu Úc với các quốc gia nằm ở phía bắc là Hàn Quốc, Triều Tiên, Trung Quốc, Butan, Bănglađét, Nêpan. Về mặt địa lý hành chính hiện đại, Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia: các quốc gia nằm ở hải đảo gồm Inđônêxia, Xingapo, Philippin, Brunây, Đông Timo; các quốc gia nằm ở lục địa gồm Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Mianma; và quốc gia Malaixia là vừa hải đảo vừa lục địa. Với vị trí đó, Đông Nam Á sớm trở thành khu vực có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn trên nhiều bình diện, đồng thời là điều kiện thuận lợi để các nước trong khu vực tiếp cận, trao đổi với các nền văn hóa bên ngoài từ Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập đến châu Âu, để sáng tạo cho mình một nền văn hóa rộng lớn, đặc sắc và thấm đậm tinh thần khu vực. Địa hình Đông Nam Á là khu vực có địa hình phong phú, với núi rừng, đồng bằng và biển cả, được nối với nhau bằng hệ thống sông ngòi chằng chịt đầy nước, cho nên văn hóa Đông Nam Á là một chỉnh thể thống nhất của ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển.
Ở mỗi yếu tố văn hóa tự mang trong mình những đặc trưng riêng của chủ nhân nó. Những yếu tố: núi, biển và đồng bằng được tạo nên và chi phối chặt chẽ bởi những đặc điểm địa hình vô cùng độc đáo nơi đây, bởi, Đông Nam Á hải đảo hay lục địa đều có sự đan xen mang tính hệ thống giữa đồi núi, đồng bằng và sông biển, mà 5 Ở khu vực thuộc bán đảo Trung - Ấn, có các cao nguyên rộng lớn, từ cao nguyên Shan (Mianma), Khorat (Thái Lan), Bôlôven, Khăm Muộn (Lào) đến Tây Nguyên (Việt Nam), rồi vươn ra biển làm cho các dòng sông lớn cũng bắt nguồn từ các núi rừng rộng lớn. Với hệ thống sông ngòi dày đặc, cũng bắt nguồn từ bán đảo Trung - Ấn: sông Mê Kông dài 4.500km (đoạn chảy vào khu vực Đông Nam Á dài 2.600km), sông Xaluen dài 3.200km, Iraoađi dài 2.150km, sông Mê Nam dài 1.200km, sông Hồng dài 1. Còn ngược lại, các con sông trên quần đảo Mã Lai như ở Inđônêxia, Philippin, thậm chí cả Malaixia đều ngắn và dốc, có giá trị khai thác thủy điện cao.
Sông ngòi ở Đông Nam Á không chỉ có giá trị về mặt giao thông mà chủ yếu là tạo nên các vùng châu thổ màu mỡ phù sa. Thông thường, tương ứng với các con sông lớn là các vùng châu thổ rộng lớn, như vùng Hạ Mianma; châu thổ Mê Nam (Thái Lan); châu thổ Mê Kông (Cămpuchia, Việt Nam…); châu thổ sông Hồng (Việt Nam). Từ bán đảo Đông Dương qua Thái Lan đến Mianma, cảnh quan tự nhiên của vùng là những châu thổ xen kẽ với đồi núi, rừng rậm kéo dài từ phía bắc xuống phía nam ra biển, núi rừng và bình nguyên ở Đông Nam Á bao phủ các đảo, quần đảo ở phía đông, đông nam với trữ lượng lớn về tài nguyên. Sang quần đảo Mã Lai, các quốc gia Inđônêxia và Philippin có các dãy núi uốn nếp xen các núi lửa với cao nguyên núi lửa, còn các đồng bằng thường phân bố dọc theo các miền duyên hải hoặc trong các thung lũng giữa núi.
Đồng bằng ở hải đảo thường nhỏ hẹp hơn so với khu vực lục địa, tuy nhiên, so với khu vực Đông Nam Á lục địa, địa hình đồi núi ở các nước hải đảo lại có phần quy mô hơn, trong đó địa hình núi lửa trở thành một yếu tố nổi bật trong cảnh quang thiên nhiên của khu vực này. Hầu hết các đỉnh núi cao nhất ở Inđônêxia và Philippin đều là những núi lửa đang hoạt động hoặc đã tắt, như núi Kerinsi ở Xumatơra, Semera ở Giava, Rantemario ở Xulavêxi, Anpô trên đảo Minđanao (Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008). Đông Nam Á là khu vực có nhiều quần đảo vào bậc nhất thế giới, tập trung chủ yếu ở hai quốc gia: Inđônêxia (17.508 hòn đảo) và Philippin (7. Biển và vịnh ở Đông Nam Á kéo dài từ vùng biển Đông, bán đảo Đông Dương hướng ra Thái Bình Dương đến vịnh Inđônêxia của Ấn Độ Dương.
Đảo và quần đảo với những vịnh lớn, nhỏ, cùng với những eo biển nổi tiếng lâu đời đã tạo nên bức tranh thiên nhiên đa sắc và hùng vĩ của Đông Nam Á. Đó chính là những nét chung, thống nhất về mặt địa hình các quốc gia Đông Nam Á. Bên cạnh những nét chung đó, ở mỗi quốc gia lại chứa đựng những nét riêng, khác biệt tạo nên cảnh sắc đa dạng, muôn màu muôn vẻ trong toàn khu vực. Khí hậu Đông Nam Á có vị trí địa lý khá quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi có đường xích đạo chạy qua, cho nên cùng chịu ảnh hưởng chủ yếu của khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết đặc trưng của khu vực châu Á.
Đặc điểm chung của vùng này là tính chất bán đảo và điều kiện hoàn lưu gió mùa, tạo cho Đông Nam Á, một khu vực “châu Á gió mùa” bởi đặc trưng nổi bật của khí hậu nóng và ẩm, với hai mùa được hình thành khá rõ là mùa khô và mùa mưa trong năm. Theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu thì Đông Nam Á có độ ẩm cao nhất thế giới (trên 80% - 90%), vì có đường xích đạo chạy qua. Do có đường bờ biển dài bao quanh khiến lượng nước bốc hơi trên đất liền luôn dư thừa (Sakurai Yumlo, 1996), tạo nên khí hậu nóng ẩm (nhiệt độ trung bình từ 20 - 270C) và mưa nhiều (lượng mưa từ 1. Mặc dù, khu vực Đông Nam Á cùng 6 Tuy nhiên, người ta phân chia khí hậu Đông Nam Á thành hai đới khác nhau (Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008), vừa tạo nên tính đa dạng vừa tạo nên tính thống nhất về khí hậu nơi đây: Đới khí hậu xích đạo: tạo thành một dải dọc theo đường xích đạo, bao gồm các đảo Xumatơra, Calimantan, Xulavêxi, phần tây các đảo Giava, Irian, phần nam bán đảo Malacca và đảo Minđanao.
Đới khí hậu cận xích đạo (đới gió mùa xích đạo): gồm hai đới nằm ở phía bắc và phía nam đới khí hậu xích đạo. Trong đó, đới nằm ở phía bắc bao gồm: phần lớn bán đảo Trung - Ấn và gần như toàn bộ quần đảo Philippin; còn đới ở phía nam gồm toàn bộ quần đảo nằm ở phía đông của đảo Giava. Ở các đới khí hậu này, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa hạ (1) và mùa đông (2). Nhìn tổng thể, địa hình - khí hậu Đông Nam Á khá thuận lợi cho cuộc sống của con người, nhất là ngay trong buổi đầu bình minh lịch sử, chính vì vậy, Phan Ngọc Liên, Nghiêm Đình Vỳ, Đinh Ngọc Bảo, Trần Thị Vinh (2002) đã khẳng định: Những mùa mưa ổn định với khí hậu không quá gay gắt về cả nhiệt độ và lượng mưa, địa bàn sinh tụ nhỏ nhưng hết sức phong phú, đa dạng kết hợp rừng - suối, đồi ruộng, có biển, có đồng bằng, đã tạo nên những không gian lí tưởng cho cuộc sống của con người thời cổ, điều đó giải thích vì sao, từ rất cổ xưa, con người đã đến đây sinh sống.
Tóm lại, “điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều và có gió mùa là hằng số tự nhiên của văn hóa Đông Nam Á, và chính nó đã góp phần tạo nên nét đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á - một nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng” của khu vực” (Mai Ngọc Chừ, 1999: 17). Động và thực vật Với điều kiện khí hậu như đã nói trên sẽ gắn chặt với sự sinh tồn và phát triển của giới động, thực vật ở khu vực Đông Nam Á. Thật vậy, với rừng tự nhiên đa dạng, mang nhiều màu sắc, cho nên thành phần trong giới động vật ở khu vực Đông Nam Á cũng rất phong phú và đa dạng về chủng loài. Trong rừng nhiệt đới ẩm thường xanh (2) có khỉ, đười ươi, vượn, heo vòi, nhiều loài chim và bò sát… Trong rừng gió mùa, rừng thưa và xavan cây bụi (3) tập trung nhiều động vật ăn cỏ, ăn lá cây và động vật ăn thịt.
Đáng chú ý là có trâu rừng, linh dương, nai, bò tót, bò xám, tê giác một sừng, voi, hổ, báo… Tất cả các loài này phân bố rộng, có ở cả bán đảo Trung - Ấn và vùng đảo Mã Lai. Ngày nay, nhiều loài động vật quý như hổ, báo, bò rừng, tê giác… bị suy giảm nhanh và có nguy cơ bị tuyệt chủng vì con người săn bắn bừa bãi và diện tích rừng bị thu hẹp (Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008).