Chương I : Khái luận về giai đoạn văn học từ 1930 đến 1945. Chương II : Văn học lãng mạn (1930 - 1945). Chương III : Văn học hiện thực. Chương IV : Phong trào văn học đấu tranh cách mạng.
Trong chương Khái luận, văn học được nhìn nhận đánh giá dưới nhãn quan có tính hỗn hợp vừa theo phương pháp sáng tác vừa theo xu hướng tư tưởng chính trị: Văn học lãng mạn, Văn học hiện thực, Văn học cách mạng. Thậm chí nhìn nhận đánh giá theo đặc điểm lưu hành của văn học (như Văn học hợp pháp). Văn học hợp pháp được chia thành Văn học nô dịch, Văn học lãng mạn, hiện thực và văn nghiên cứu. Khi đánh giá hình thức của Văn học, Thơ được giành một phần in đậm và được đánh giá trên hai khía cạnh : Sự phát triển của Tho mới và đặc điểm của Thơ mới với nhận định sự thắng lợi của thơ mới xuất phát từ hai lý do cơ bản: "a.
Nó hop với nhu cầu của lớp độc gid mới (tu sản, tiểu tư sản, trí thức), lớp người này có nếp sống, tâm hôn, nhu câu về tình cảm, nghệ thuật khác hẳn lớp trí thức phong kiến, họ không chịu nổi những khuôn khổ gò bó, cứng nhắc của thơ Đường. Thơ mới có khả năng điên dat được day đủ ý nghĩ tình cảm của họ hơn. Thành trì của văn thơ phong kiến cũng suy yếu lắm rồi, ngay cả những nhà thơ của lớp trước có nhiều hán học như Tan Đà cũng đã "phá cách, vứt điệu luật và làm những bài thơ theo điệu riêng, hoàn toàn tự do của minh" [54, 21]. Đồng thời chương Khái luận cũng đưa ra những nhận định về đặc điểm thơ mới ở phương diện hình thức.
Đó là, thơ mới không bắt buộc phải có số câu, vần, luật như thơ Đường. Thơ mới sử dụng mạnh bạo lối ngắt câu mới và chú trọng vận dụng khả năng âm thanh và nhịp điệu của ngôn ngữ dân tộc để diễn đạt trung thành cảm xúc tác giả. Âm điệu thường linh hoạt uyén chuyển hơn thơ cũ. Ngôn ngữ trong thơ mới không quá trang trọng với nhiều tiếng Hán Việt, điển cố, điển tích mà chủ yếu là ngôn ngữ rút ra từ tiếng nói phổ thông thường ngày nên nhẹ nhàng trong sáng, dễ hiểu.
"Với những đặc điểm trên thơ mới phát triển rất nhanh chóng. Chỉ trong khoảng năm bảy năm, thơ mới đã có đủ loại: Thơ trữ tình (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu.), Thơ trào phúng (Tú Mỡ, Đỗ Phồn), Anh hùng ca (Phạm Huy Thông), Thơ đấu tranh (Tố Hữu)" [54, 22]. Đặc biệt, trong chương II Khái quát văn học lãng mạn, sách giáo khoa đã đưa ra bốn nhận định về tính chất của văn học lãng mạn với những dòng chữ in đậm : ” „ Tinh chát chống luân lý lễ giáo và nề nếp phong kiến. - Tính chất cai lương.
- Tính chát trốn tránh tiêu cực. - Tính chất cá nhân, hưởng lạc, đôi truy". 18 Cụ thể, liên quan đến phần thơ, sách giáo khoa đã đưa ra những dẫn chứng và lý lẽ nhằm làm sáng tỏ những tính chất ấy trong các tác phẩm, tác giả. Biểu hiện rõ nhất ở trong thơ là "tính chất trốn tránh, tiêu cực.
Tính chất cá nhân, hưởng lạc, đồi truy". Sách giáo khoa cho rằng các nhà văn lãng mạn nói chung sống tách rời nhân dân, tâm hồn của họ lúc nào cũng thấy cô đơn, hiu quạnh. Nỗi buồn tràn ngập, họ chỉ có thể giải quyết bằng cách đi trốn : trốn vào thiên nhiên mây gió, trăng (Xuân Diệu); trốn vào quá khứ, luyến tiếc một thời oanh liệt đã qua (Thế Lữ, Quách Tấn); trốn vào phiêu lãng, trốn vào cõi tiên cõi phật (Thế Lữ, Huy Cận, Hàn Mạc Tử); trốn vào nghệ thuật thuần tuý (nhóm Xuân Thu nhã tập). Đặc biệt là trốn vào tình yêu.
Không một nhà thơ lãng mạn nào không nói về tình yêu, nhất là Xuân Diệu. "Nhưng đây chỉ là tình yêu không gắn liền với sản xuất, phần lớn là tình yêu phức tạp, vớ vdn, phản trắc, điên loạn của những kẻ "nhàn cư", nhưng kẻ ngồi không, sống xa thực tế tách rời nhân dan" [54, 43]. "Họ quan niệm "tôi là tôi. là mục đích là cứu cánh" (Những bước đường tu tưởng cua tôi - Xuân Diệu).
Họ ca tụng không chút dé dat, không chút ngượng mồm cái tôi, tôi yêu, tôi buồn, tôi thoát ly, tôi trụy lạc. chủ nghĩa cá nhân trở thành trung tâm của văn học lãng mạn”. [ 54, 43] Bên cạnh đó, khi bàn về nghệ thuật của văn học lãng mạn, sách giáo khoa cũng đưa ra nhận định : "Một đặc điểm nữa của ngôn ngữ văn chương lãng mạn là có rất nhiều khả năng khêu gợi cảm giác, phần nhiều cảm giác không lành mạnh ở những thanh niên lãng mạn, xa thực tế. Văn thơ lãng mạn nguy hiểm một phần chính là ở chỗ đó" (Rất rõ ở trong thơ Xuân Diệu, thơ Vũ Hoàng Chương.
Từ những nhận định đánh giá về tính chất và đặc điểm nghệ thuật của văn học lãng mạn sách giáo khoa đi đến kết luận: "Văn học lãng mạn nước ta trong giai đoạn 1930-1945 thật là phức tạp. Ta không thể gạt phăng giá trị của nó hoặc xếp nó cùng một loại với văn học nô dịch, nhưng cũng không thể xem nó có giá trị ngang với văn học hiện thực, càng không thể so sánh với văn học cách mạng. Vì văn học lãng mạn có quá nhiều thiếu sót, có quá nhiều tính chất tiêu cực, thoát ly, đồi trụy, có hại cho thanh niên.Văn học 19 lãng mạn truyền cho người đọc rất nhanh chóng cái nọc độc cá nhân chủ nghĩa, khoái lạc chủ nghĩa, cảm giác chủ nghĩa. Nói chung phần tác dụng tích cực của nó quá ít ỏi và chỉ là về hình thức.
Khách quan nó chỉ có lợi cho thực dân, vì nó ru ngủ, làm mềm yếu thanh niên, làm cho họ xa rời thực tế đấu tranh dân tộc, tiếp thu chậm ánh sáng cách mạng của Dang" [54, 49]. Chính vì những nhận định trên mà toàn bộ thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 mà cụ thể là thơ mới đã không được chọn một tác phẩm nào, một tác giả nào vào chương trình học trong bộ sách giáo khoa đầu tiên của nền giáo dục cách mạng. Trên nền nhận thức ấy, toàn bộ học kỳ II của năm lớp 10 (lớp cuối cấp) sách giáo khoa giành cho việc học về văn học Việt Nam từ 1945 đến nay. Một trong những nội dung quan trọng của bài khái quát giai đoạn là nhận định "Sự lãnh dao của Đảng trong văn hoc" [54, 25] nhấn mạnh thành một mục lớn tương đương với một bài với các nội dung cụ thể : Sau cách mạng tháng 8, Đảng đã có điều kiện lãnh đạo văn nghệ một cách trực tiếp và toàn diện.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các nhà văn đã nỗ lực chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng, để có thể mang ngòi bút của mình ra phục vụ đắc lực cho công nông binh. Nền văn học của chúng ta là một nền văn học có tính chất dân tộc, hiện thực và nhân dân. Văn học đã làm nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ. "Nhà văn không phải chỉ ghi chép lại cuộc đời mà còn tham gia cải biến cuộc đời theo đúng hướng của chủ nghĩa xã hội như bất cứ một chiến sỹ cách mạng nào khác" [54, 38].
Nhận định về thơ từ 1945 đến nay [54, 39] cũng được giới thiệu trong một tiết học (tương đương với một bài). Bài này đã đưa ra những ý kiến quan trọng : Thơ ca sau 1945 đã phát triển phong phú và mạnh mẽ, đổi mới đề tài, phản ánh những tình cảm lớn của thời đại mà chủ yếu vẫn là lòng yêu nước xuyên các thế hệ, tinh thần chiến đấu khác phục khó khăn, tinh thần lạc quan tin tưởng. Hình thức thơ ca sau cách mạng vẫn "tiếp tục phát triển những hình thức cổ truyền của dân tộc : ca dao, hò, vè, lối thơ lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn v. được dùng để diễn tả những cảm nghĩ của thời đại.
Song không chỉ dừng ở các thể thơ truyền thống "Nội dung mới cũng đòi hỏi một 20 hìn h thứ c mới. Một thể thơ đặc biệ t khô ng gò bó tro ng số chữ , số câu , khô ng cứng nhắc trong van điệu, đã được hình thành. Những bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới của Tố Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên là những thành công tốt đẹp của thể thơ này". Bởi nd đủ phóng khoáng để chứa đựng một nội dung tình cảm sôi nổi nhưng cũng vẫn giữ được cốt cách êm dém của tiếng nói Việt Nam.
Ngoài ra bài Nhận định về thơ từ 1945 đến nay cũng giành riêng một mục lớn để nêu lên "nhược điểm của thơ ca sau cách mạng". Nhược điểm được đề cập ở hai khía cạnh : "Khuyết điểm chính là đa số các nhà thơ của chúng ta còn thiếu cái hơi thở lớn lao của thời đại. Do thế mà còn thiếu chất lãng mạn cách mạng trong thơ để nâng cao tâm hồn người đọc. còn thiếu những bản anh hùng ca của thời đại.
Nhất là những ngày đầu cách mạng và kháng chiến trong thơ ca còn nhiều cái "rớt" của tư tưởng tình cảm cũ, xa lạ với công nông. Về sau đã có nhiều tiến bộ rõ rệt nhưng thơ ca về con người công nhân hãy còn thưa thớt, vắng vẻ. Về hình thức. vẫn còn thiếu cái nhuân nhuyễn về nghệ thuật cần được "tăng cường chất thơ, chất suy nghĩ, hình tượng, chất cảm xúc, chất nhạc điệu.
Sau những đánh giá bao quát có năm tác phẩm thơ được chọn giảng: Dọn về làng của Nông Quốc Chấn sáng tác 1950, Thăm lúa của Trần Hữu Thung sáng tác 1950, Dat nước của Nguyễn Dinh Thi (1948 - 1955) và giới thiệu phân tích giá tri tập thơ Việt Bắc cũng như giảng văn bài thơ Việt Bắc (1955) của Tố Hữu. Như vậy, bộ sách giáo khoa trung học phổ thông đầu tiên chỉ chọn giảng các tác phẩm tiêu biểu thuộc thơ ca thời kỳ chống Pháp.Nhìn chung, sự tuyển chọn và giới thiệu thơ Việt Nam hiện đại vào SGK trung học phổ thông của bộ SGK những năm 60 - 70 đã đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục cách mạng buổi đầu. Trang bị những hiểu biết về thơ Việt Nam hiện đại theo định hướng của Dang, phù hợp với xã hội thời chiến, bồi dưỡng, nuôi dưỡng, khích lệ tâm hồn, tinh thần của thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu nóng bỏng 21 của đất nướ c. Son g nó mớ i chỉ dừ ng lại ở việ c đáp ứn g mụ c tiê u giá o dục của thời chiến.
Thơ Việt Nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa THPT những năm 80.