MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Năm 1986 đánh dấu quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường. Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt khuyến khích xuất khẩu. Tiếp bước những quá trình đổi mới đó, hàng loạt các vấn để kinh tế — xã hội được triển khai để thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII.
Trong đó có chính sách phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp, là sự ra đời của khu chế xuất Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh (năm 1991). Nhà nước ta tiếp tục ban hành Quy chế khu chế xuất (Nghị định 322/HĐBT ngày 18/10/1991) và Quy chế khu công nghiệp (Nghị định 192/CP ngày 28/12/1994) đến Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997) cho phép đầu tư xây dựng, phát triển mạnh các khu chế xuất, khu công nghiệp. Sau 15 năm (1991- 2005) phát triển , nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp được xây dựng hầu khắp cả nước ở vùng ven đô, vùng nông thôn. Cuối năm 2005, cả nước đã có 130 khu chế xuất, khu công nghiệp (không tính các khu kinh tế tổng hợp như Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội.), hình thành một hệ thống các khu chế xuất, khu công nghiệp với diện tích đất tự nhiên lên đến 27 nghìn ha, thu hút khoảng 740 nghìn lao động vào làm việc [122].
Riêng thành phố Hồ Chí Minh, trên địa bàn có 15 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích 3. Để xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp, Nhà nước cần phải thu hồi một phần đất của người dân, đất thu hồi chủ yếu là đất nông nghiệp nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển công nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp có thu nhập cao. Từ đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp, phân công lại lao động xã hội ở vùng nông thôn, tạo động lực phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những kết quả thu được, còn có nhiều vấn để kinh tế, xã hội phát sinh ở địa phương nơi có các khu chế xuất, khu công nghiệp.
Trong đó có vấn để việc làm của những người nông dân sau khi bị thu hồi đất và cả người dân địa phương ở khu vực lân cận các khu chế xuất, khu công nghiệp. Theo khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thực trạng việc làm của người dân địa phương nơi có các khu chế xuất, khu công nghiệp, thì chỉ có 13% lao động nông thôn bị thu hồi đất được đào tạo; 20% lao động có việc làm không ổn định và 60% số hộ bị thu hồi đất vẫn sống dựa vào nông nghiệp. Số lao động bị mất việc làm sau khi mất đất ở một số khu vực điển hình như: Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800 người, Đồng Nai 11.295 người, Quảng Ninh 7.043 người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9. Tỉnh Vĩnh Phúc cao nhất có đến 23% lao động nông thôn được nhận vào làm việc ổn định trong khu công nghiệp [76].
Bình quân mỗi hộ bị thu hồi đất có khoảng 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm [56, tr. 4-7] và cứ mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm nông nghiệp [98]. Kết quả khảo sát của Đại học Kinh tế Quốc dân về những người bị thu hồi đất cũng cho thấy trình độ của họ: số người không có trình độ chuyên môn là 73,75%; số người có trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp chỉ có 17,01%, số người được học nghề (công nhân kỹ thuật) là 3,06%, trình độ khác là 5,28% [97]. Từ số liệu có thể hiểu tại sao các khu chế xuất, khu công nghiệp khó có thể tuyển dụng lao động vùng bị thu hồi đất.
Do lao động địa phương tại các khu chế xuất, khu công nghiệp thường không có tay nghề và trình độ văn hóa thấp. Quy hoạch và xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp do vẫn chưa gắn với quy hoạch đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và những khó khăn rất lớn đối với lao động nông nghiệp lớn tuổi (khoảng 35 tuổi trở lên). Đối tượng ở độ tuổi cao chiếm số lượng không nhỏ ở khu vực nông thôn, lâu nay quen sống với nghề nông, nay để chuyển đổi nghề nghiệp và thích nghi, hòa nhập với môi trường mới là rất khó. Việc làm của người nông dân càng trở nên khó khăn khi mảnh đất làm nông vốn quen thuộc nay trở thành khu chế xuất, khu công nghiệp, rồi dần trở thành vùng khu đô thị mới.
Khi kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển mạnh sang hướng công nghiệp, dịch vụ; việc làm của người dân càng trở nên khó khăn hơn khi không chuẩn bị, định hướng để chuyển đổi nghề nghiệp - việc làm và ngày càng khó khăn cho họ để theo kịp cuộc sống đô thị. Số người nhận tiền đển bù đất nông nghiệp, người nông dân nữa mừng nữa lo, mừng vì người nông dân có số tiễn không nhỏ, lo vì mai đây họ sẽ làm gì? Mọi thứ sẽ trở nên đảo lộn khi nông dân mất việc kéo dài (nguy cơ đi vào con đường tệ nạn xã hội). Với tính cấp thiết đó, nên chúng tôi chọn để tài “Tác động của khu công nghiệp tập trung đến việc làm của cư dân ở khu vực lân cận (khảo sát tại khu công nghiệp Tân Tạo- huyện Bình Chánh - thành phố Hồ Chí Minh)” với mong muốn tìm hiểu vấn để việc làm của cư dân địa phương ở khu vực lân cận cận khu công nghiệp tập trung. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn để cần tìm hiểu của để tài là việc làm của cư dân ở khu vực lân cận khu công nghiệp tập trung và quá trình này diễn biến dưới các tác động của khu công nghiệp.
Có nhiễu mục đích để phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, điều này còn phụ thuộc mục đích của mỗi nước. Nhưng tựu trung lại, xây dựng và phát triển khu công nghiệp tập trung có liên quan đến các mục đích như: Thu hút vốn đâu trực tiếp tư nước ngoài (Foreign Direct Investmemt — FDI); - Thu hit, tập trung các cơ sở công nghiệp trong nước; - Tao việc làm và thu nhập cho người lao động; -_ Tăng cường các mối liên kết và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng [27, tr. Khu công nghiệp Tân Tạo được xây dựng tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (địa bàn đề tài khảo sát) là một vùng ven đô thị. Khu vực này đang trên đường hình thành đô thị mới, sự chuyển dịch cơ cấu nghễ nghiệp, việc làm ở đây đang diễn ra rất mạnh và đã được nhiễu tác giả đi trước khảo sát nghiên cứu.
Với để tài mà chúng tôi đang thực hiện “Tác động của khu công nghiệp tập trung đến việc làm của cư dân ở khu vực lân cận (Tại khu công nghiệp Tân Tạo - huyện Bình Chánh - thành phố Hồ Chí Minh)” có liên quan đến nhiều vấn đề trên tại vùng ven đô thị. Các công trình có để cập đến vấn để nghiên cứu mà chúng tôi có nhịp sưu tam nhu: “Tao viéc lam cho người lao động qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”(2000) của tiến sĩ Bùi Anh Tuấn thực hiện. Qua phân tích việc làm được tạo ra cho người lao động do dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tác giả có nhận định “đâu 0 trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào một số thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung.
chủ yếu tạo việc làm cho khu vực thành thị, khu công nghiệp không tạo ra nhiều việc làm trong nông nghiệp, nông thôn. Điều này đã làm tăng lao động nông thôn ra thành thị và tăng sức ép về việc làm. Tác giả cho rằng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng tạo việc làm và cơ hội việc làm cho thanh niên, những người được đào tạo ở những vùng ven ngoại thành. Nhưng do trình độ dân trí ở khu vực nông thôn rất hạn chế không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại khu chế xuất, khu công nghiệp.
Tác giả lấy ví dụ qua điều tra xã hội học để xây dựng khu công nghiệp cảng Chân Mây cho thấy 21.000 dân ở đây trình độ văn hóa quá thấp lại không có tay nghề [117, tr. Ảnh hưởng chính của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại khu vực nông thôn là tạo việc làm bên ngoài cho nông dân địa phương hơn là làm việc trong khu chế xuất, khu công nghiệp. Việc làm bên ngoài còn được tác giả gọi là việc làm “gián tiếp” hay là hiệu ứng “đømino” tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra việc làm cho người dân tại khu vực có khu chế xuất, khu công nghiệp. Qua tham khảo tại địa bàn xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 1994 của Viện xã hội học cùng với việc khảo sát của mình, tác giả Đặng Xuân Thảo trong đề tài “Mối quan hệ giữa dân số và việc làm ở một xã phát triển ngoại thành Hà Nội” (1998) đã làm rõ các nhân tố của “công nghiệp hóa và hiện đại hóa tạo ra những ngành nghề mới, khu công nghiệp trung tâm, những đô thị lớn, những trung tâm công nghiệp và dịch vụ ngay tại khu vực nông thôn (.) là nơi thu hút nhiều lao động vào làm việc” [120, tr.
Tác giả phân tích rằng cùng với sự phát triển nhanh và mạnh của công nghiệp và dịch vụ, dân số tự nhiên (đo sự thay đổi của cách mạng công nghiệp, trình độ nhận thức, quan niệm, thói quen sinh sống của cả cộng đông dân cư, từng gia đình, từng cá nhân nên có khuynh hướng đề ít, đề thưa) và lao động nông nghiệp giảm, tăng lao động công nghiệp, tăng quy mô việc làm, làm thay đổi hiện trạng phân công lao động xã hội. Phân tích thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Sự phân công lao động xã hội ngày một thêm sâu sắc hơn, nhiều ngành nghề mới xuất hiện.