ĐẶT VẤN ĐỀ Các hợp chất thiên nhiên từ thảo dược rất phong phú về mặt cấu trúc hóa học và có nhiều tác dụng như kháng khuẩn, kháng viêm, chống oxy hóa.Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng và ẩm nên nguồn thực vật tự nhiên rất phong phú và đa dạng. Chính vì thế việc nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây cỏ ở trong nước ngày càng được đẩy mạnh. Cây Húng lủi có tên khoa học là Mentha spicata L., thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Từ xưa, Húng lủi là một loại rau phổ biến trong bữa ăn của con người.
Theo y học cổ truyền, Húng lủi được sử dụng để điều trị rối loạn tiêu hóa, viêm phế quản, viêm gan siêu vi [37], [61]. Các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy tinh dầu cây Húng lủi có hoạt tính kháng khuẩn mạnh trên các chủng Gram (+) (S. aeruginosa) và kháng nấm (C. Ngoài ra, Húng lủi còn có khả năng chống oxy hóa mạnh [23].
Các nghiên cứu về Húng lủi được thực hiện khá nhiều trên thế giới nhưng tại Việt Nam còn rất hạn chế. Vì vậy, để góp phần làm rõ thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của Húng lủi ở Việt Nam, đề tài: “Khảo sát thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Húng lủi (Mentha spicata L.)” được tiến hành với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Khảo sát thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Húng lủi (Mentha spicata L. Mục tiêu cụ thể: - Kiểm tra nguyên liệu. - Khảo sát sơ bộ thành phần hóa học của thân và lá Húng lủi.
- Chiết xuất tinh dầu và cao nước Húng lủi. - Xác định thành phần hóa học của tinh dầu bằng phương pháp GC/MS. - Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, kháng viêm Húng lủi. - Bào chế xà phòng kháng khuẩn chứa tinh dầu lá, cao thân, cao lá Húng lủi.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT 2. Vị trí phân loại Cây Húng lủi có vị trí phân loại như sau: [13] Sơ đồ 2. Vị trí phân loại loài M.
spicata Tên Việt Nam: Húng dũi, Lục bạc hà, Húng láng [8], [4]. Tên khoa học: Mentha spicata L. Tên đồng nghĩa: Mentha crispa L., Mentha atrata Schur, Mentha lacerata Opiz, Mentha laciniosa Shur [57], [65]. Đặc điểm thực vật của họ Lamiaceae Mô tả thực vật: Thân hầu hết là cỏ sống một năm hay nhiều năm, đôi khi là cây gỗ.
Thân và cành có tiết diện vuông, cây có mùi rất thơm do lông tiết tinh dầu ở thân và lá. Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập, ít khi mọc vòng, không có lá kèm. Phiến lá nguyên hay có răng cưa hoặc có khía sâu. Cụm hoa ít khi hoa mọc riêng lẻ ở nách lá, thường là xim đa dạng (xim 2 ngả rất phân nhánh và kết thúc thành xim 1 ngả hình bọ cạp; xim co thành chụm ở nách lá, 3 xếp thành vòng giả ở mỗi mấu, các vòng giả có thể xếp khít vào nhau tạo thành gié giả hay đầu ở ngọn; đôi khi xim thu hẹp còn 3 hoa).
Hoa không đều, lưỡng tính. Công thức hoa điển hình ở họ Hoa môi là K5C5A4G2. Bao hoa có đài dính nhau ở đáy thành ống, phía trên chia thành 5 thùy 2 môi (3/2 hoặc 1/4). Hình dạng của ống đài rất biến thiên, có thể đều, thẳng hay cong hoặc mang nhiều nếp xếp hay gân lồi, hình chuông, hình ống, hình phễu hay hình nón.
Cánh hoa dính nhau thành ống dài hay ngắn thường có lông. Bộ nhị gồm 4 nhị, 2 nhị dài và 2 nhị ngắn hoặc đôi khi giảm còn 2 nhị. Nhị sau bị trụy không để lại dấu vết. Nhị đính trên ống tràng xen kẽ với cánh hoa và có thể mọc thò ra ngoài hoa.
Bao phấn thường đính ở ngọn, các bao phấn song song với nhau. Bộ nhụy gồm 2 lá noãn dính liền thành bầu trên 2 ô nhưng có vách giả ngăn thành 4 ô, mỗi ô đựng 1 noãn. Vòi nhụy ở đáy hay gần ở đỉnh bầu, không có vòi nhụy gắn ở đỉnh bầu. Đĩa mật bao quanh đáy bầu noãn.
Quả bế tư trong đài còn lại, hạt thường không có nội nhũ. Tại Việt Nam có khoảng 40 chi và khoảng 145 loài [5]. Đặc điểm thực vật của chi Mentha Chi Mentha thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) gồm khoảng 25 – 30 loài được tìm thấy chủ yếu ở các vùng ôn đới của Châu Âu, Châu Á, Châu Úc, Nam Phi và Bắc Mỹ [22]. Chúng phát triển mạnh trong môi trường ẩm ướt, đất ẩm và một phần trong bóng râm.
Chi Mentha có chiều cao từ 10 – 120 cm và chúng phát triển lan rộng trên một khu vực có kích thước không xác định. Trong chi Mentha, người ta cho rằng 5 loài cơ bản gồm Mentha arvensis L. và Mentha suaveolens Ehrh. đã tạo ra 11 giống lai tự nhiên [20].
Đặc điểm thực vật của loài Mentha spicata Dạng cây thảo thân mọc thẳng phân nhánh hoặc có gốc bò, với những thân bò dưới đất có vẩy và những chồi bò trên mặt có lá, thường phân nhánh, có thể dài tới 1 m. Lá mọc đối, hình trứng, hình trái xoan hay thuôn, tù hay nhọn, dài 2 – 7 cm, rộng 1 – 2,5 cm, có mép răng cưa, đầu nhọn, gốc tròn và cuống dài 3 mm. Hoa thành vòng có 4 cuống, đài to, tràng có lông ở trong ống. Bốn nhị dài bằng nhau, vòi chẻ đôi ở ngọn, màu oải hương nhạt đôi khi là màu trắng [4], [35].
Một số hình ảnh cây Húng lủi [4], [24]. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MENTHA SPICATA Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy thành phần chính của M. spicata gồm flavonoid và tinh dầu. Flavonoid Flavonoid là một nhóm chính của 8000 hợp chất polyphenol, được sắp xếp thành 6 nhóm chính gồm flavonol, flavanon, flavanol, flavon, anthocyanin, isoflavon [44].
Năm 2011, Bimakr cùng các cộng sự đã phân lập được apigenin, catechin, luteolin, rutin từ lá M. Năm 2018, Erenler cùng các cộng sự đã tìm thấy bốn flavonoid từ phần trên mặt đất của M. Qua phương pháp đo phổ NMR, LC- TOF/MS đã xác định được các hợp chất là 5-demethyl sinensetin, hesperidin, didymin và linarin [25]. Voirin và các cộng sự đã phân lập được 2 flavonoid từ lá của M.
Thông qua biện giải phổ UV, NMR đã xác định các hợp chất là cirsilineol và desmethylnobiletin [56]. 5-demethyl sinensetin (1), hesperidin (2), apigenin (3), didymin (4), catechin (5), linarin (6) được phân lập từ M. Luteoin (7), rutin (8), cirsilineol (9) và desmethylnobiletin (10) được phân lập từ M. Tinh dầu Năm 2015, Yasser Shahbazi đã khảo sát thành phần hóa học của tinh dầu từ lá cây M.
spicata bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS). Kết quả phân tích GC/MS xác định được 18 thành phần, chiếm 99,89% toàn bộ tinh dầu. Thành phần chính là carvon (78,76%), limonen (11,50%), β-bourbonen (11,23%), cis- dihydrocarveol (1,43%), trans-caryophyllen (1,04%), menthon (1,01%), menthol (1%), terpinen-4-ol (0,99%) [48]. Trong một nghiên cứu khác, Mejdi Snoussi và các cộng sự đã xác định được 63 thành phần từ tinh dầu lá bằng phương pháp GC/MS trong đó thành phần chính gồm carvon (40,8%), limonen (20,8%), 1,8-cineol (17%), β-pinen (2,2%), pulegon (0,3%) [51].
Trong một nghiên cứu tại Paskistan, 19 thành phần hóa học của tinh dầu từ các bộ phận trên mặt đất của M. spicata đã được xác định gồm carvon (51,7%), cis-carveol (24,3%), limonen (5,3%), 1,8-cineol (4%), cis-dihydrocarveol (2,2%), carvyl acetat (2,1%), cis-sabinen hydrat (1%) [30]. 7 Tại Algeria, Kehili Sarah đã xác định thành phần chính của tinh dầu M. spicata là carvon (52,60%), limonen (24,99%), eucalyptol (7,22%), trans-caryophyllen (3,38%), α-pinen (0,66%), β-pinen (1,97%), myrcen (0,77%), β-elemen (0,96%), β- ocimen (0,10%), α-humulen (0,25%),.
Cis-sabinen hydrat (10), carvyl acetat (11), pulegon (12), myrcen (13), β- ocimen (14), β-elemen (15), α-pinen (16), β-pinen (17), α-humulen (18) trong M. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA M. Theo y học cổ truyền Trong y học cổ truyền Iran, từ thời cổ đại nước sắc của M. spicata đã được sử dụng để điều trị viêm phế quản, buồn nôn, đầy hơi, chán ăn.
Tinh dầu từ lá cây được ứng dụng chữa bệnh với đặc tính chung là tiêu thũng, chống ho, chống co giật, giảm đau và an thần [40]. Ở Ấn Độ, nước sắc lá của M. spicata được dùng trong bệnh viêm gan [61]. 9 Trong y học cổ truyền Palestin, tinh dầu M.
spicata đã được sử dụng để điều trị cảm lạnh, ho, hen suyễn, sốt, béo phì và rối loạn tiêu hóa [59]. Theo y học hiện đại Tác dụng kháng khuẩn Năm 2002, Aggarwal và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá cây M. Thử nghiệm bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch cho thấy tinh dầu có hoạt tính chống lại 11 chủng vi khuẩn. Hoạt tính mạnh trên một số chủng như: S.
Năm 2012, Wissal Dhifi và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu đánh giá khả năng kháng khuẩn của tinh dầu từ phần trên mặt đất của cây M. Hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá trên 4 chủng vi khuẩn (S. coli, Salmonella sp.) bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch. Kết quả cho thấy tinh dầu có khả năng kháng khuẩn và hoạt tính mạnh trên chủng: E.
coli và Salmonella sp. Năm 2018, HA Nikšić và các cộng sự đã xác định hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu pha trong dung môi n–hexan ở các nồng độ 10%, 5%, 1%, 0,5% và 0,1% bằng phương pháp đục lỗ thạch trên 3 chủng Gram (+) (B. epidermidis) và 3 chủng Gram (-) (E. aeruginosa và Salmonella enterica subsp.
enterica serotype Abony). Kết quả cho thấy tinh dầu pha trong dung môi n–hexan ở các nồng độ khác nhau đều có hoạt tính kháng khuẩn và nhất là trên các chủng vi khuẩn Gram (-) [43]. Tác dụng kháng nấm Năm 1998, Konstantia Adam và các cộng sự nghiên cứu hoạt tính kháng nấm gây bệnh ở người. Kết quả tinh dầu của M.
spicata có hoạt tính chống lại nấm Malassezia furfur, Trichophyton rubrum, Trichosporon beigelli phụ thuộc vào thời gian và nồng độ [14]. Sokovic và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính kháng nấm của dịch chiết hòa tan trong ethanol và trong Tween bằng phương pháp pha loãng. Kết quả cho thấy tinh dầu của M. spicata có hoạt tính chống lại 17 loại nấm.
Nồng 10 độ ức chế tối thiểu (MIC) của dịch chiết trong ethanol là 1,0 – 2,5 µL/mL cao hơn dịch chiết trong tween là 0,5 – 1,5 µL/mL. Và nồng độ diệt nấm tối thiểu (MFC) của dịch chiết pha loãng trong ethanol và tween là 0,5 – 2,5 µL/ml [52]. Năm 2011, Naseem Ullad và các cộng sự đã đánh giá tiềm năng kháng nấm của dịch chiết n–hexan , chloroform, ethyl acetat, n–butanol của M. Kết quả cho thấy các dịch chiết trên có hoạt tính chống lại nấm Trichophyton longifusus, Microsporum canis, C.
albicans, Aspergillus flavus, Fusarium solani, Candida glaberata [55].