Chương 1 Các thuyết phản tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử Ngược lại hoàn toàn với chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận trong lĩnh vực xã hội học, chủ nghĩa lịch sử cho rằng: Một vài phương pháp đặc trưng của vật lí học không thể áp dụng được cho các môn khoa học xã hội, do những khác biệt sâu sắc giữa xã hội học và vật lí học. Nó bảo chúng ta, các định luật vật lí, hoặc “các định luật tự nhiên” có hiệu lực ở mọi nơi và mọi lúc; vì thế giới vật lí được điều khiển bởi một hệ thống các đại lượng vật lí đồng đều bất biến trong không gian và thời gian. Các định luật xã hội học, hoặc các định luật của đời sống xã hội, tuy vậy, lại khác nhau ở các nơi và các giai đoạn khác nhau. Mặc dù chủ nghĩa lịch sử thừa nhận rằng: Có nhiều điều kiện xã hội điển hình mà sự tái diễn đều đặn có thể được quan sát, nó lại từ chối việc thừa nhận: Những sự đều đặn có thể phát hiện được trong đời sống xã hội có đặc tính của những sự đều đặn không thể thay đổi được của thế giới vật lí.
Vì chúng phụ thuộc vào lịch sử, và vào những khác biệt về văn hoá. Chúng phụ thuộc vào tình thế lịch sử cá biệt. Như thế ta không thể, thí dụ, nói mà không nêu rõ thêm về các quy luật kinh tế, mà chỉ có thể nói về các quy luật kinh tế của giai đoạn phong kiến, hay của thời kì đầu công nghiệp, và vân vân; luôn luôn nhắc đến giai đoạn lịch sử, trong đó, các quy luật được nói đến được cho là đã thịnh hành. Chủ nghĩa lịch sử khẳng định rằng: Tính tương đối lịch sử của các quy luật xã hội làm cho hầu hết các phương pháp của vật lí học không thể áp dụng được cho xã hội học.
Các lí lẽ lịch sử chủ nghĩa điển hình, mà quan niệm này dựa vào, liên quan đến khái quát hoá, thí nghiệm, tính phức tạp của các hiện tượng xã hội, những khó khăn của tiên đoán chính xác, và tầm quan trọng của chủ nghĩa bản chất phương pháp luận. Tôi sẽ thảo luận lần lượt các lí lẽ này. Mục 1: Khái quát hoá Theo chủ nghĩa lịch sử, khả năng của khái quát hoá và sự thành công của nó trong các môn khoa học vật lí dựa vào tính đồng đều phổ biến của tự nhiên: Vào quan sát - có lẽ được mô tả đúng hơn như một giả thiết - rằng trong các hoàn cảnh giống nhau, những việc giống nhau xảy ra. Nguyên lí này, được cho là có hiệu lực cả trong không gian và thời gian, được nói là tạo cơ sở cho phương pháp của vật lí học.
Chủ nghĩa lịch sử khẳng định rằng: Nhất thiết, nguyên lí này vô dụng trong xã hội học. Những hoàn cảnh giống nhau chỉ xảy ra trong phạm vi một giai đoạn lịch sử duy nhất. Chúng chẳng bao giờ kéo từ một giai đoạn sang giai đoạn khác. Do đó, không có sự đồng đều dài hạn trong xã hội mà các khái quát hoá dài hạn có thể dựa vào - tức là, nếu chúng ta bỏ qua những sự đều đặn tầm thường, như được chủ nghĩa vị tha mô tả rằng: Con người luôn sống theo nhóm, hoặc rằng cung của các thứ nào đó có giới hạn còn cung của các thứ khác, như không khí, là vô hạn, và chỉ có các thứ trước có thể có bất kể giá trị thị trường hay trao đổi nào.
Theo chủ nghĩa lịch sử, một phương pháp bỏ qua sự hạn chế này và cố khái quát hoá những đồng đều xã hội sẽ ngầm giả thiết rằng: Những sự đều đặn được nói đến kéo dài muôn thủa; cho nên, một quan điểm ấu trĩ về phương pháp luận - quan điểm cho rằng các môn khoa học xã hội có thể lấy phương pháp khái quát hoá từ vật lí học - sẽ tạo ra một lí thuyết xã hội học sai và lừa dối một cách nguy hiểm. Nó sẽ là một lí thuyết từ chối, rằng xã hội phát triển; hoặc rằng: Nó từng thay đổi một cách đáng kể; hoặc rằng: Sự phát triển xã hội, nếu có, có thể tác động đến những tính đều đặn của đời sống xã hội. Các nhà lịch sử chủ nghĩa hay nhấn mạnh rằng: Ðằng sau các lí thuyết sai lầm như vậy, thường có một mục đích biện giải; và thực vậy, giả thiết về các quy luật xã hội học không thay đổi có thể dễ bị lạm dụng cho các mục đích như vậy. Nó có thể xuất hiện, đầu tiên, như lí lẽ cho rằng: Các thứ khó chịu và không được ưa phải được chấp nhận, vì chúng được các quy luật bất biến của tự nhiên quy định.
Thí dụ, “các quy luật không lay chuyển được” của kinh tế học đã được viện dẫn để chứng minh sự vô ích của sự can thiệp theo luật vào việc mặc cả lương. Một sự lạm dụng biện giải thứ hai của giả thiết về tính dai dẳng, là nó nuôi dưỡng cảm nhận chung về tính không thể tránh khỏi, và như thế, về sự sẵn sàng cam chịu sự không thể tránh khỏi một cách yên lặng và không có kháng cự. Cái hiện thời sẽ kéo dài mãi mãi, và các mưu toan tác động đến tiến trình của các sự kiện, hoặc ngay cả đánh giá nó, là lố bịch: Ta không lí luận chống lại các quy luật tự nhiên, và các mưu toan vứt bỏ chúng chỉ có thể dẫn đến thảm hoạ. Nhà lịch sử chủ nghĩa cho rằng, các lí lẽ bảo thủ, biện giải, thậm chí an phận này là hệ quả tất yếu của đòi hỏi phương pháp theo tự nhiên phải được chấp nhận trong xã hội học.
Người theo chủ nghĩa lịch sử phản đối chúng bằng cách xác nhận rằng: Những sự đồng đều xã hội khác xa sự đồng đều của các môn khoa học tự nhiên. Chúng thay đổi từ một giai đoạn lịch sử này sang giai đoạn khác, và hoạt động của con người là lực làm thay đổi chúng. Vì những sự đồng đều xã hội không phải là các quy luật tự nhiên, mà là nhân tạo; và mặc dù có thể nói: Chúng phụ thuộc vào bản chất con người, chúng là vậy vì bản chất con người có năng lực để thay đổi và, có lẽ, để điều khiển chúng. Vì vậy, các thứ có thể được làm tốt lên hay xấu đi; cải cách tích cực không phải là vô ích.
Các xu hướng này của chủ nghĩa lịch sử hấp dẫn những người cảm thấy có bổn phận phải tích cực; để can thiệp, đặc biệt vào công việc đời, từ chối việc chấp nhận hiện trạng như điều không thể tránh khỏi. Xu hướng hành động và chống lại sự thoả mãn thuộc bất kể loại nào có thể được gọi là “chủ nghĩa hành động”. Tôi sẽ nói kĩ hơn về quan hệ của chủ nghĩa lịch sử với chủ nghĩa hành động ở các mục 17 và 18; nhưng tôi có thể trích dẫn ở đây một lời kêu gọi nổi tiếng của Marx, một nhà lịch sử chủ nghĩa nổi tiếng, biểu hiện thái độ “hành động chủ nghĩa” một cách nổi bật: “Các triết gia đã chỉ lí giải thế giới theo những cách khác nhau; vấn đề tuy vậy là biến đổi nó”. [2] Mục 2: Thí nghiệm Vật lí học sử dụng phương pháp thí nghiệm; tức là, nó đưa ra sự điều khiển nhân tạo, sự cô lập nhân tạo, và do đó, đảm bảo sự tái tạo các điều kiện tương tự, và sự tạo ra nhất quán các tác động nhất định.
Phương pháp này hiển nhiên dựa vào ý tưởng rằng: Ở đâu các điều kiện là giống nhau, những thứ giống nhau sẽ xảy ra. Nhà lịch sử chủ nghĩa cho rằng phương pháp này không thể áp dụng trong xã hội học. Nó cũng chẳng ích gì, anh ta lập luận, ngay cả giả như có thể áp dụng được. Vì các điều kiện giống nhau xuất hiện chỉ trong phạm vi giới hạn của một giai đoạn duy nhất, kết quả của bất kể thí nghiệm nào sẽ có tầm quan trọng rất hạn chế.
Hơn nữa, sự cách li nhân tạo sẽ loại bỏ chính những nhân tố quan trọng nhất trong xã hội học. Robinson Crusoe và nền kinh tế đơn nhất của anh ta chẳng bao giờ có thể là một mô hình có giá trị của một nền kinh tế mà các vấn đề của nó nảy sinh chính từ tương tác kinh tế của các cá nhân và các nhóm. Họ lập luận tiếp là không thể có các thí nghiệm có giá trị thật sự nào. Các thí nghiệm quy mô lớn trong xã hội học chẳng bao giờ là các thí nghiệm theo nghĩa vật lí.
Chúng không được thực hiện để làm cho tri thức với cương vị như thế tiến bộ, mà để đạt được thành công chính trị. Chúng không được thực hiện trong một phòng thí nghiệm tách biệt khỏi thế giới bên ngoài; đúng hơn, chính việc thực hiện chúng làm thay đổi các điều kiện xã hội. Chúng chẳng bao giờ được lặp lại dưới các điều kiện giống nhau một cách chính xác, vì các điều kiện đã thay đổi bởi sự thực hiện lần đầu tiên của chúng. Mục 3: Tính mới Lí lẽ vừa được nhắc tới đáng bàn chi tiết thêm.
Chủ nghĩa lịch sử, như tôi đã nói, từ chối khả năng lặp lại các thí nghiệm xã hội quy mô lớn trong các điều kiện giống nhau một cách chính xác, vì các điều kiện của lần thực hiện thứ hai phải bị ảnh hưởng bởi sự thực, là thí nghiệm đã được thực hiện trước đó. Lí lẽ này dựa vào ý tưởng rằng xã hội, giống một sinh vật, có một loại kí ức mà chúng ta thường gọi là lịch sử của nó. Trong sinh học, chúng ta có thể nói về lịch sử cuộc sống của một sinh vật, vì một sinh vật tuỳ thuộc một phần vào các sự kiện đã qua. Nếu các sự kiện như vậy lặp lại, thì đối với các sinh vật, trải nghiệm sẽ mất đi đặc tính mới của chúng, và trở nên đượm màu thói quen.
Nhưng điều này là chính xác: Vì sao trải nghiệm sự kiện lặp lại không hệt như trải nghiệm sự kiện ban đầu - vì sao trải nghiệm sự lặp lại là mới. Sự lặp lại của các sự kiện quan sát được, vì thế, có thể tương ứng với sự nổi lên của các kinh nghiệm mới trong một nhà quan sát. Vì nó tạo ra các thói quen mới, sự lặp lại tạo ra các điều kiện mới, quen thuộc. Tổng toàn bộ các điều kiện - bên trong và bên ngoài - ở đó, chúng ta lặp lại một thí nghiệm nào đó trên cùng một sinh vật, và vì thế, không thể là đủ giống nhau để cho chúng ta nói về một sự lặp lại đích thực.