Chương 1. Một số vấn đề lí luận về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục và pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục 1. Lí luận về hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục 1. Khái niệm hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục không phải là một hoạt động đầu tư mới mẻ tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm cụ thể và thống nhất về hoạt động này.
Việc xác định rõ khái niệm “hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục” có vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở cho việc áp dụng các quy định pháp luật. Qua việc tìm hiểu những nghiên cứu của các nhà khoa học và sự đúc rút của bản thân, em xin trình bày về khái niệm “đầu tư” nói chung và cụ thể hóa khái niệm “đầu tư trong lĩnh vực giáo dục”. Khái niệm đầu tư “Đầu tư” không còn là khái niệm xa lạ hay trừu tượng khi mà mọi lúc mọi nơi trên thế giới đều đang diễn ra hoạt động đầu tư như “hơi thở” của hội nhập, như là một quy luật tất yếu của tồn vong và phát triển. Tuy vậy, trên thế giới không có khái niệm “đầu tư” duy nhất và bất biến.
WTO – Tổ chức thương mại thế giới là mô hình tối cao của hội nhập cũng không quy định gì về vấn đề đầu tư. Nhiều vòng đàm phán không giải quyết được bất đồng xung quanh khái niệm “đầu tư” nên mặc dù có ý định soạn thảo Hiệp ước đa phương về vấn đề đầu tư vào năm 1978 nhưng OECD – tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - cũng không thành công. Pháp luật các nước trên thế giới có những cách nhìn nhận về khái niệm “đầu tư” khác nhau, thậm chí, pháp luật một số nước không có điều khoản nào đưa ra định nghĩa về “đầu tư” (Cambodia). Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng 2003, tr301) khái niệm đầu tư là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội”.
Trong kinh tế học, đầu tư được hiểu là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó (Giáo trình Kinh tế đầu tư – Đại học Kinh tế quốc dân). Đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động đầu tư do các chủ thể khác nhau, có thể là tổ chức hoặc cá nhân tiến hành, được pháp luật quy định cụ thể. Hoạt động đầu tư sử dụng tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ của con người để tạo ra giá trị gia tăng chính là các kết quả đầu tư.
Các kết quả của hoạt động đầu tư có thể là tài sản vật chất, có thể là tài sản trí tuệ, có thể chính là tiền, có thể là nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Như vậy, hoạt động đầu tư mang lại những lợi ích được xác định trước cho nền kinh tế và cho toàn xã hội. Theo quan điểm của luật học, hoạt động đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các h́nh thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội khác. Hoạt động đầu tư có thể có có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại.
Trong khoa học pháp lí cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu đựợc đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, với bản chất là “sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận” – Black’s Law Dictionary, Centennital Edition Sixth Edition, 1991, page 825. Trước khi Luật đầu tư 2005 ra đời, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật. Lúc bấy giờ hoạt động đầu tư được điều chỉnh bởi Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Cả hai văn bản này đều không có định nghĩa về đầu tư nói chung mà chỉ có khái niệm đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Luật Đầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoat động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh đã đưa ra định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Luật đầu tư thống nhất có sự phân biệt về thuật ngữ giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lí dự án đầu tư. Dưới góc độ điều chỉnh các hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, có thể thấy hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2005 chính là một bộ phận của hoạt động thương mại, phù hợp với khái niệm của Luật Thương mại 2005 (Khoản 1 Điều 3). Hoạt động đầu tư có những đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung đó chính là mục đích lợi nhuận, đồng thời hoạt động đầu tư cũng có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thương mại khác như mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại… Tuy nhiên, hoạt động đầu tư có đặc thù riêng so với các hoạt động thương mại khác, hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất tạo lập, là sự bỏ vốn, tài sản… nhằm hình thành cơ sở vật chất, kĩ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận.
Tóm lại, hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ ra những nguồn lực ở hiện tại để tiến hành hoạt động nào đó nhằm thu về những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra trong quá khứ, hoạt động đầu tư chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư 2005 và những văn bản pháp luật có liên quan. Khái niệm đầu tư trong lĩnh vực giáo dục Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là một hoạt động đầu tư đặc thù, là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, chủ yếu chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư 2005 và Luật giáo dục 2005. Theo Luật đầu tư, “Hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó” ( Khoản 2, Điều 5). Cũng theo Luật Đầu tư, “Phát triển sự nghiệp giáo dục” được quy định là lĩnh vực ưu đãi đầu tư (Điều 27), và là lĩnh vực đầu tư có điều kiện (Điều 29).
Theo Luật giáo dục 2005, “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” (Điều 9); “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” (Điều 13). Giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt, việc đầu tư cho giáo dục được quy định theo hướng thống nhất, đồng bộ giữa Luật đầu tư và Luật giáo dục, là một hoạt động chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nhưng hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục lại được thực hiện theo quy định của hệ thống pháp luật chuyên ngành. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển bền vững của đất nước là vô cùng to lớn nên ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục không ngừng tăng. Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ nghiên cứu hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục của các lực lượng xã hội ngoài nhà nước, gồm cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội và đầu tư nước ngoài.
Đầu tư cho giáo dục là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi đầu tư. Hoạt động đầu tư cho giáo dục có những đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư nói chung, đều là sự hi sinh một nguồn lực trong hiện tại để tiến hành những hoạt động trong môi trường giáo dục nhằm thu được những kết quả trong tương lai và kết quả thu được từ hoạt động đó phải lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực phải hi sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (trường học, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục…); tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lí, khoa học…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả xã hội được thụ hưởng. Chẳng hạn, một trường học được xây dựng, tài sản vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời xã hội cũng được hưởng thành quả của hoạt động đầu tư này. Hoạt động đầu tư cho giáo dục không chỉ đem lại kết quả cho nhà đầu tư mà còn cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng chính là đầu tư phát triển. Còn các loại đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu tư tác động gián tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thông, phân phối các sản phẩm do kết quả của hoạt động đầu tư phát triển tạo ra thì đó là đầu tư tài chính và đầu tư thương mại.
Như vậy, đầu tư cho lĩnh vực giáo dục là một bộ phận của đầu tư nói chung, đều mang lại những lợi ích tăng thêm cho nhà đầu tư và góp phần mang lại cho xã hội những giá trị quan trọng như nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Hoạt động đầu tư cho lĩnh vực giáo dục phải được định hướng rõ ràng, phải được quản lí tốt để đạt được mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc điểm của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển “Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư.