Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương 2: Các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định nhìn từ phương diện nội dung. Chương 3: Các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định nhìn từ phương diện nghệ thuật. 10 NỘI DUNG Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số đặc điểm tự nhiên, đời sống văn hóa xã hội huyện Tràng Định 1. Đặc điểm tự nhiên Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Bắc của tỉnh Lạng Sơn, ở 22012’33’’ đến 22018’30’’ vĩ tuyến Bắc và 106027’33’’ đến 106030’00’’ kinh độ Đông; có tổng diện tích tự nhiên là 999,62 km; trong đó diện tích đất rừng có 91,145 ha chiếm 94% tổng diện tích tự nhiên. Thị trấn Thất Khê cách thị xã Lạng Sơn 70 km theo quốc lộ 4A.
Phía Bắc giáp huyện Thạch An - Cao Bằng, phía Tây giáp Na Rì - Bắc Kạn, phía Nam và Tây Nam giáp hai huyện Bình Gia và Văn Lãng - Lạng Sơn, phía Đông và Đông Bắc giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, gồm 4 xã biên giới với tổng chiều dài đường biên giới là 53 km. Vị trí địa lí đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tràng Định giao lưu kinh tế, văn hoá- xã hội với các vùng khác, tỉnh khác đặc biệt là với cả quốc gia láng giềng Trung Quốc. Do vậy, từ xưa thị trấn Thất Khê - Tràng Định đã nổi tiếng là một châu, huyện phát triển sầm uất. Địa hình huyện Tràng Định chia làm hai khu vực tương đối phức tạp, gồm vùng đồi núi có độ cao trung bình 450 - 500 m, độ dốc lớn trên 25% chiếm tới 96% tổng diện tích đất rừng và vùng cánh đồng Thất Khê.
Tuy địa hình phức tạp nhưng Tràng Định có một phong cảnh thiên nhiên hữu tình tươi đẹp. Những ngọn núi nối tiếp nhau chạy vòng quanh ôm lấy cánh đồng Thất Khê giống như một lòng chảo lớn. V đẹp của mảnh đất này đã trở thành huyền thoại, truyền thuyết đối với mỗi người dân nơi đây. Người dân còn lưu giữ mãi một câu chuyện xa xưa kể rằng: Cảnh thiên nhiên Tràng Định xưa đẹp và thơ mộng lắm, có đồi núi, có cánh đồng và có ba dòng sông trong mát hiền hoà uốn lượn qua những vùng đồi núi, chảy ra cánh đồng…Cảnh đẹp đó đã thu hút sự chú ý của bảy nàng tiên con của Ngọc Hoàng.
Ngày ngày bảy tiên nữ đó đều 11 bay từ trên trời xuống tắm mát và vui đùa trên sông. Một hôm, các nàng mải chơi vui quá nên quên mất giờ về, đến khi thiên đình sắp đóng cửa mới sực nhớ và vội bay về trời, bỏ quên bảy dải lụa mềm mại, tươi đẹp. Bảy dải lụa của bảy nàng tiên nữ đã hoá thành bảy dòng suối chảy quanh cánh đồng và tên của cánh đồng, của thị trấn Thất Khê cũng bắt nguồn từ câu chuyện đó. Mạng lưới sông suối của Tràng Định phân bố khá đồng đều gồm 3 sông, 7 suối.
Các con sông đều chảy qua cánh đồng Thất Khê nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu đồng áng, vận chuyển hàng hoá, phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ. Những dòng sông, con suối còn đem phù sa đến bồi đắp cho cánh đồng Thất Khê nên cánh đồng này đã trở thành một mảnh đất trù phú, phì nhiêu, trồng cấy đạt năng suất cao. Trong nhân dân còn có câu ca rằng: “Thất Khê gạo trắng nước trong Ai lên đến đó thời không muốn về” Không chỉ có đất đai vùng cánh đồng trù phú mà đất đai của huyện Tràng Định nói chung được hình thành trên một số loại đá mẹ, chủ yếu là sa thạch và phiến thạch tạo thành nhiều vùng rộng lớn. Do ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, thực vật rừng.
sự phát triển tầng đất rất mạnh. Tầng đất dày, cấu tượng tơi xốp, nhiều mùn, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp: hồi, trẩu, sở, quế. và các loại cây ăn quả như: mơ, mận, cam, lê. Nơi đây đã từng nổi tiếng với những đặc sản Mận Thất Khê, Lê Tràng Định.
Khí hậu Tràng Định là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi. Mùa đông thịnh hành gió mùa Đông Bắc lạnh và ít mưa, nhiều năm có sương muối; mùa hạ thịnh hành gió Đông Nam, Nam và Tây Nam, nhiều giông và nhiều mưa, có năm chịu ảnh hưởng của bão. Nhìn chung, Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới có nhiều tiềm năng: đất đai, tài nguyên rừng, động thực vật phong phú, tiềm năng du lịch và dịch vụ… Đồng thời, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội. Tự nhiên chính là tiền đề vật chất để con người sinh sống, là môi trường để con 12 người hoạt động đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên.
Những đặc điểm tự nhiên là yếu tố quan trọng quy định tính chất của nền văn hoá và sinh hoạt văn hoá - xã hội của người dân nơi đây. Một số đặc điểm về đời sống văn hoá xã hội 1. Đặc điểm đời sống văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Văn hoá Lạng Sơn hay còn gọi là văn hoá xứ Lạng là một tiểu vùng của văn hoá lớn, đó là “vùng văn hoá Việt Bắc” nước ta. Đặc điểm lớn nhất của “vùng văn hoá Việt Bắc” là văn hoá lòng chảo, thung lũng, làm ruộng lúa nước là chủ yếu.
Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, có ảnh hưởng lớn đến các dân tộc thiểu số trong vùng, là dân tộc Tày, Nùng. Văn hoá Tràng Định là một bộ phận hữu cơ của tiểu vùng văn hoá xứ Lạng. Văn hoá các dân tộc ở đây rất phong phú, thể hiện đa dạng văn hoá cấp độ dưới tiểu vùng (cảnh quan, lãnh thổ) trong văn hoá nhóm ngôn ngữ và tiếng dân tộc riêng biệt, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Tràng Định là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó có 6 dân tộc có số dân đông nhất là Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông, Hoa và một số dân tộc khác số dân ít ỏi đến làm ăn sinh sống.
Vì vậy sắc thái các nhóm văn hoá ngôn ngữ ở Tràng Định phong phú, đa dạng như nhóm ngôn ngữ Tày- Thái (Tày và Nùng), Dao - Mông, Hán (Hoa) và Việt - Mường (Kinh); chỉ vắng mặt nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, Tạng - Mianma, Ka đai. Do địa hình phức tạp nên sự phân bố dân cư của các dân tộc theo từng nhóm, từng vùng: văn hoá cư dân Tày, Nùng làm ruộng nước định cư ở vùng lòng chảo, tiêu biểu là cánh đồng Thất Khê; văn hoá r o cao của các cư dân Dao, Mông trồng trọt nương rẫy, du canh du cư; cư dân thị trấn buôn bán như người Kinh, Hoa…Cư dân các dân tộc sống chan hoà với thiên nhiên nên có nhiều sinh hoạt tín ngưỡng dân gian độc đáo như Mo, Tào, Pựt, Then… 13 Là nơi quần tụ của nhiều dân tộc nên ở đây tỉ lệ dân số giữa các dân tộc có sự chênh lệch, phong tục tập quán khác nhau, ngôn ngữ khác nhau…Tạo nên một Tràng Định có nhiều nét văn hoá đặc sắc, tiêu biểu. Những nét văn hoá truyền thống tốt đẹp ấy được thể hiện trong tinh thần tương thân tương ái giữa các cộng đồng dân tộc cùng chung sống. Các dân tộc ở đây qua bao thế hệ đã chung sống hoà thuận, tôn trọng và giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau để tạo ra sức mạnh chống thiên tai, giặc giã, để tồn tại và phát triển cùng với cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Bản sắc văn hoá tốt đẹp ấy thể hiện qua thuần phong mĩ tục, qua việc cố kết tình làng nghĩa xóm. Từ lâu nhân dân đã lập phe, phường để trợ giúp nhau về vật chất công sức trong việc hiếu, việc hỷ… Một trong những sinh hoạt văn hoá mang đậm nét bản sắc dân tộc của nhân dân Tràng Định là tập tục tổ chức lễ hội và chợ phiên. Hàng năm, vào dịp lễ tết cổ truyền đặc biệt là trong tháng giêng, xã nào cũng có lễ hội, tiêu biểu như: Hội Lồng Tồng - xã Đại Đồng, hội Nàng Hai - xã Chí Minh, hội Đền Gốc Sung - Thị trấn Thất Khê, hội đua thuyền - xã Quốc Việt, hội Quốc Khánh… Mỗi lễ hội đều gắn với một câu chuyện, một truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian. Qua lễ hội người dân thể hiện những mong muốn giản dị: thăm thú danh lam, cầu may, mùa màng tươi tốt, làm ăn suôn s …Vì vậy, khi đến ngày hội, người dân từ già, tr , gái, trai đều kéo nhau đi xem hội rất đông vui, tham gia nhiệt tình vào các trò chơi của lễ hội như văn nghệ, đánh cờ, hát si, lượn, múa sư tử… Đây cũng là dịp để các dân tộc giao lưu văn hoá.
Chợ phiên cũng là một hình thức sinh hoạt văn hoá thường xuyên của các dân tộc nơi đây. Chợ chính là nơi để mọi người buôn bán, giao lưu, trao đổi hàng hoá và là nơi các dân tộc, các vùng giao lưu về văn hoá, kinh nghiệm sản xuất… Ở các xã vùng cao đều có chợ phiên riêng phục vụ nhu cầu của người dân, song chợ Thất Khê (trước kia gọi là Cẩu Pung) vẫn là nơi nhộn nhịp nhất, là trung tâm diễn ra các hoạt động giao lưu giữa các dân tộc trong huyện. 14 Nói đến Tràng Định không thể không nói đến truyền thống yêu nước và cách mạng. Từ xa xưa, Tràng Định là lãnh thổ không tách rời của Việt Nam.
Từ khi có Đảng và Bác Hồ, truyền thống cách mạng được hun đúc, tôi luyện trở thành ngọn lửa thử vàng. Tràng Định có vinh dự lớn được nằm trong cái nôi của cách mạng Việt Nam, nằm trong chiến khu Cao - Bắc - Lạng, nơi đóng vai trò quý báu trong nền khởi nghĩa và cách mạng tháng Tám, trong các cuộc kháng chiến chống Pháp - Mĩ và là mảnh đất vinh dự được Bác Hồ 2 lần đến thăm hỏi, động viên. Hiện nay, các sinh hoạt văn hoá - xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Tràng Định vẫn luôn gắn liền với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đặc điểm đời sống văn hoá xã hội của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tộc người Tày là cư dân bản địa của Tràng Định.
Dân tộc Tày là dân tộc có số dân đông nhất trong huyện, tổng số dân là: 26.257 người chiếm 44,9 %. Đa số người Tày là dân bản địa và một số ít là người dân di cư khai hoang đến sinh sống từ lâu đời đã Tày hóa. Người Tày có những họ chính: Nguyễn, Bế, Hoàng, Nông, Vy, Đinh, Hà, Chu, Ma, Đoàn, Đường, Tô,…vv….