mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Motif và biểu tƣợng nhƣ những đơn vị liên văn bản nghệ thuật Chƣơng 2: Motif trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly Chƣơng 3: Biểu tƣợng trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly 6. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn đã phần nào cắt nghĩa đƣợc các motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly nói riêng và trong đời sống văn hóa nói chung. Luận văn đi vào tìm hiểu các biểu tƣợng và motif đƣợc lặp đi lặp lại trong tác phẩm gắn liền với tình huống cốt truyện, số phận tính cách các nhân vật và không gian tiểu thuyết. Các biểu tƣợng và motif tạo nên sự đa dạng trong phƣơng thức biểu hiện trở thành công cụ thông tin giao tiếp giữa các nền văn hóa với ngôn ngữ khác nhau.
Lê Thị Huế 8 K59- Lý luận Văn học z Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Luận văn không chỉ tìm hiểu ý nghĩa của các biểu tƣợng trong tác phẩm Hồ Quý Ly mà còn so sánh với các tác phẩm khác để thấy đƣợc giá trị văn hóa kết tinh trong từng motif biểu tƣợng. Mở ra một hƣớng tiếp cận mới cho tác phẩm văn học theo hƣớng văn hóa học. Lê Thị Huế 9 K59- Lý luận Văn học z Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Chƣơng 1: Motif và biểu tƣợng nhƣ những đơn vị liên văn bản nghệ thuật 1. Khái niệm, kiểu dạng và chức năng của motif Motif có thể là yếu tố hoặc ý tƣởng lặp đi lặp lại trong suốt những đoạn văn, nó không nhất thiết phải là một chủ đề mà có thể nhƣ một thông điệp.
Ngƣời đầu tiên trên thế giới đƣa ra khái niệm motif là nhà Folklore học ngƣời Nga A.N Vexelopxki vào thế kỷ XIX, trong công trình Thi pháp học lịch sử, sau đó năm 1910, A.Thompson đã làm từ điển về tif và motif. Ở Việt Nam, Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, và Trần Đình Sử trong cuốn Dẫn luận thi pháp học đƣợc coi là hai ngƣời đầu tiên giới thiệu về motif và đƣa ra những khái niệm về nó. Trong khi đó motif gắn liền với văn hóa dân gian của các dân tộc trên thế giới hình thành ngay từ buổi bình minh cùng lịch sử loài ngƣời. Về nguồn gốc của khái niệm motif đƣợc phiên âm từ tiếng Pháp gắn với văn hóa âm nhạc, với tƣ cách một phạm trù của nghiên cứu văn học.
Các học giả đã khảo sát motif nhƣ một yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn cuả văn bản và ngôn bản, đó là những sự vật, hình ảnh, là đơn vị nhỏ nhất cuả cốt truyện dân gian. Về sau motif gắn với tác giả và cảm quan nghệ thuật của tác giả, với việc phân tích chỉnh thể của tác phẩm. Theo cuốn 150 Thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân, motif gắn với thế giới tƣ tƣởng và cảm xúc của tác giả một cách trực tiếp hơn so với các thành tố khác của hình thức nghệ thuật, nhƣng khác với các thành tố ấy, motif không mang tính hình tƣợng “độc lập”, không mang tính toàn vẹn thẩm mỹ, chỉ trong quá trình phân tích cụ thể sự “vận động” của motif, chỉ trong việc soi tỏ tính bền vững, tính cá thể ở sự hàm nghĩa của nó, nó mới có đƣợc ý nghĩa và giá trị nghệ thuật. [1, 210] Lê Thị Huế 10 K59- Lý luận Văn học z Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Motif là một trong những thuật ngữ đƣợc sử dụng nhiều nhất hiện nay trong những nghiên cứu về thể loại tự sự dân gian.
Hƣớng nghiên cứu theo kết cấu và nội dung của motif cũng nhƣ mối quan hệ giữa motif và cốt truyện ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Việc phân tích các motif có vai trò rất quan trọng: để tìm kiếm những tầng nghĩa sâu xa đƣợc giấu kín trong đó, những biểu tƣợng văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia, phân tích motif để tìm ra con đƣờng ngắn nhất của các văn bản có yếu tố văn hóa dân gian. Những motif lặp đi lặp lại trong văn học truyền thống, những ám ảnh tâm lý của con ngƣời ở những giai đoạn lịch sử với những không gian văn hóa khác nhau là phác họa chân thực nhất về tiến trình nhận thức của loài ngƣời. Các motif đƣợc khảo sát trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh bao gồm: Motif giấc mộng, motif hồng nhan bạc mệnh, motif thù trong giặc ngoài.
Các motif đi từ vấn đề mang tính cá nhân về thế giới tinh thần của con ngƣời đến vấn đề thân phận con ngƣời mà cụ thể ở đây là ngƣời phụ nữ và mở rộng ra bàn đến vấn đề vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Các motif trên không chỉ xuất hiện trong bộ ba tiểu thuyết lớn của Nguyễn Xuân Khánh mà còn là những vấn đề lớn và trung tâm của văn học dân tộc mọi thời đại từ văn học dân gian đến văn học hậu hiện đại ngày nay. Khái niệm, kiểu dạng và chức năng của biểu tƣợng Biểu tƣợng (symbol) là các đối tƣợng, các kí tự, con số, mầu sắc đƣợc sử dụng để đại diện ý tƣởng hoặc khái niệm triù tƣợng. Biểu tƣợng luôn hàm chứa trong nó những giá trị mà đằng sau mỗi giá trị thƣờng ẩn dấu một nhu cầu nào đó của con ngƣời.
Giải mã các biểu tƣợng là chìa khóa để giải mã đời sống văn hóa, tinh thần của một cộng đồng dƣới góc nhìn kí hiệu học. Biểu tƣợng trong tiếng Việt là một từ gốc Hán, có nghĩa khá trừu tƣợng. Theo Từ điển tiếng Việt, biểu tƣợng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là Lê Thị Huế 11 K59- Lý luận Văn học z Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh hình ảnh tƣợng trƣng, nghĩa thứ hai là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan của ta chấm dứt. Symbol trong tiếng Anh là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu Âu (symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp), theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới thì những gì đƣợc gọi là biểu tƣợng khi nó đƣợc một nhóm ngƣời đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó, biểu tƣợng có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình và biểu ý.
Mỗi biểu tƣợng đều có ý nghĩa riêng tùy thuộc vào thời gian, không gian của nó, ý nghĩa mỗi biểu tƣợng phụ thuộc vào nền văn hóa sinh ra nó, bối cảnh và thời điểm mà nó ra đời. Có thể hiểu biểu tƣợng là cái dùng để biểu thị một cái gì đó ngoài nó, nó là hình ảnh tƣợng trƣng phô bày ra khiến ta cảm nhận một giá trị trừu xuất. Biểu tƣợng cũng có thể coi nhƣ một vật môi giới làm trung gian để biểu hiện những vật khó có thể tri giác đƣợc. Về mặt chức năng biểu tƣợng còn mang tính thay thế, nó không chỉ thay thế cho các đối tƣợng thực mà còn thay thế cả các quá trình, hiện tƣợng ý niệm của con ngƣời, bên cạnh đó biểu tƣợng còn có các thuộc tính chức năng khác nữa nhƣ giáo dục, liên kết, dự báo, giáo tiếp hay thông tin.
Đặc điểm cực kỳ quan trọng của biểu tƣợng là cơ cấu cảm xúc. Bất kì một biểu tƣợng nào cũng đều mang trong nó hệ thống cảm xúc nhất định. Giữa quan hệ với thực tế thể hiện trong hình tƣợng nghệ thuật và cảm xúc đƣợc ghi nhận trong biểu tƣợng có sự khác biệt đƣơng nhiên đối với ngƣời cảm thụ nghệ thuật. Trong Kí hiệu học văn hóa Iu.
Lotman đã chỉ ra quá trình biểu tƣợng đi vào văn bản “biểu tƣợng rơi vào ký ức nhà văn từ chiều sâu của kí ức văn Lê Thị Huế 12 K59- Lý luận Văn học z Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh hóa và đƣợc làm sống lại trong văn bản mới nhƣ một hạt giống đánh rơi vào lòng đất. Sự gợi nhớ chuyện cũ, trích dẫn hay gợi nhắc đều là bộ phận hữu cơ của văn bản mới, thực hiện chức năng trong bình diện đồng đại. Chúng đi từ văn bản vào chiều sâu của kí ức, còn biểu tƣợng thì đi từ kí ức vào văn bản” [7;223]. Ông còn cho thấy ý nghĩa của biểu tƣợng là vô cùng rộng lớn “tiềm năng nghĩa của biểu tƣợng bao giờ cũng rộng hơn sự thực hiện cụ thể của chúng: các mối liên hệ mà biểu tƣợng xuất hiện nhờ sự biểu hiện của nó trong hoàn cảnh kí hiệu nào đó, không thể hiện hết tất cả các giá trị ý nghĩa của nó.
Điều đó tạo nên một trữ lƣợng ý nghĩa mà nhờ đó biểu tƣợng có thể xuất hiện trong những mối liên hệ bất ngờ, thay đổi bản chất và thay đổi hình thức của hoàn cảnh kí hiệu xung quanh một cách bất ngờ”. [7;221] Ngôn ngữ biểu tƣợng cho phép con ngƣời ở những nền văn minh khác nhau, những vùng văn hóa khác nhau, thậm chí ở những không gian, thời gian khác nhau hiểu đƣợc nhau nhờ vào đặc tính căn bản của nó là thông tin. Ngôn ngữ biểu tƣợng là thành tố văn hóa do con ngƣời tạo ra để sử dụng nhƣ một loại công cụ thông tin giao tiếp. Ferdinand de Saussure cha đẻ của ngành kí hiệu học đã tạo ra những nền tảng cho khoa học nghiên cứu về biểu tƣợng, với phƣơng pháp tiếp cận rõ ràng khúc chiết giúp tránh đƣợc đặc tính khó lƣờng của biểu tƣợng là tính trìu tƣợng và đa nghĩa.
Có rất nhiều kiểu dạng biểu tƣợng trong tiểu thuyết, nhƣng trong luận văn chủ yếu tập trung vào ba nhóm biểu tƣợng sau: Biểu tƣợng về tín ngƣỡng bao gồm biểu tƣợng âm dƣơng và lửa; biểu tƣợng sinh hoạt văn hóa bao gồm biểu tƣợng âm nhạc và vẽ tranh; biểu tƣợng không gian bao gồm vƣờn cảnh, ngôi chùa. Trong các biểu tƣợng trên ta nhận thấy biểu tƣợng về âm dƣơng có vai trò chi phối và tồn tại trong tất cả các biểu tƣợng còn lại, Lê Thị Huế 13 K59- Lý luận Văn học z Motif và biểu tƣợng trong Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh bởi trong đời sống ngƣời Việt triết lý âm dƣơng ngấm sâu vào nhận thức, tính chất cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của con ngƣời.