CHƯƠNG 1. TỪ VÀ NGHĨA CỦA TỪ 1. Đặc trưng tín hiệu của từ Dựa trên các cơ sở của ngôn ngữ học cấu trúc ta có thể nghiên cứu từ theo các đặc trƣng tín hiệu của nó. Mỗi từ tách riêng ra đều có mặt biểu hiện (bằng âm thanh hay bằng chữ viết) và mặt được biểu hiện (là các khái niệm, hình ảnh về sự vật và hiện tƣợng, tồn tại bên trong từ đó).
Mặt biểu hiện của từ đƣợc hiểu là các thuộc tính vật chất của nó, cái mà ngƣời dùng có thể cảm nhận đƣợc thông qua các giác quan của mình. Còn mặt đƣợc biểu hiện của từ chính là cái nội dung mà từ đó chuyên chở nhằm thoả mãn các nhu cầu trao đổi tƣ tƣởng và tình cảm của con ngƣời qua hoạt động giao tiếp đặc trƣng là bằng ngôn ngữ. Lyons, từ là một loại đơn vị tín hiệu điển hình nhất cho một hệ thống ngôn ngữ. Từ là đơn vị ngôn ngữ mà ngƣời sử dụng nó cảm nhận đƣợc tự nhiên nhất.
Tuy nhiên, khi đặt từ trong một mối quan hệ của con người và thực tại thì vấn đề nội dung của từ trở nên quan trọng và có nhiều cách tiếp cận khá khác nhau. Wittgenstain, vấn đề của từ chính là vấn đề tƣơng tác của mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ, hiện thực và tư duy. Từ là khả năng phản ánh thực tại của con ngƣời thông qua tƣ duy. Bởi vì ngôn ngữ là biểu hiện của tƣ duy mà tƣ duy lại chính là sự phản ánh thực tế khách quan tồn tại ngoài con ngƣời nên mỗi từ chính là sự hiện thực hoá của mối quan hệ sau đây: Thực tế khách quan Ngôn ngữ Tư duy Đa số các từ trong một ngôn ngữ đều hàm chứa đầy đủ cả ba mặt khác nhau này.
Chẳng hạn các từ cơ bản nhƣ: bàn, ghế, tủ, ăn, đẹp. có cả thực tế 8 z khách quan để phản ánh, có cả nội dung khái niệm mà nó ghi lại và bản thân âm thanh mà nó đƣợc chứa trong đó. Nhƣng lại có những từ không thể hiện đƣợc đầy đủ nhƣ vậy. Chẳng hạn các từ nhƣ ma, thần, thánh.
có khái niệm về các sự tình trong tƣởng tƣợng, nhƣng lại không có các hiện thực tƣơng ứng trong thực tế. Ngƣợc lại các từ nhƣ: cúc cu, gâu gâu, độp, soạt. lại chỉ có những hiện thực trong thực tế mà chúng phản ánh nhƣng không thể tạo nên những hình ảnh ý niệm thật rõ ràng về chúng. Chính trong mối quan hệ bộ ba mà hai mặt của tín hiệu tác động, hỗ trợ và bù trừ lẫn cho nhau tạo nên tính đa dạng và phức tạp của bản chất tín hiệu quen gọi là từ.
Trên cơ sở tam giác ngữ nghĩa ở trên, có thể đi tới việc khẳng định: không thể đồng nhất nghĩa của từ với khái niệm cũng nhƣ các thuộc tính khách quan của hiện tƣợng, sự vật mà từ phản ánh. Các phƣơng thức quan hệ giữa nội dung và bản thân từ là vô cùng đa dạng và về mặt lí thuyết rất khó kiểm soát đơn thuần chỉ bằng tƣ duy thuần lí nhƣ cách vẫn đƣợc sử dụng trong các phân ngành của khoa học tự nhiên. Chúng ta đang nói về từ với tƣ cách là một đơn vị tách rời của ngôn ngữ và mối quan hệ của nó với các cấp độ khác của ngôn ngữ cũng nhƣ với con ngƣời và hiện thực mà nó quan hệ. Tuy nhiên, các từ của một ngôn ngữ lại không tồn tại một cách biệt lập mà thƣờng xuyên đƣợc cố kết và có các quan hệ đa chiều với nhau.
Các quan hệ này tạo nên tính hệ thống của một vốn từ của một ngôn ngữ. Cấu tạo của một từ trong ngôn ngữ là một tổ hợp phức tạp các quan hệ. Thứ nhất từ ngữ âm đóng vai trò là cái ký hiệu của ý nghĩa (cái biểu hiệu). Thứ hai, từ ngữ âm với ý nghĩa của mình (cái biểu hiệu) lại đóng vai trò là ký hiệu của sự vật (cái biểu vật).
Thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, trong lời nói, trong toàn bộ tổ hợp (toàn bộ tam giác ngữ nghĩa) còn có thể đóng vai trò là ký hiệu của một sự vật khác, một sự vật mới. Các quan hệ có tính chất ký hiệu ở trong từ như vậy là có nhiều bậc [39; 34]. 9 z Quan niệm về tính tín hiệu của một từ không đơn giản là việc coi nó chỉ nhƣ là một cấu trúc bao gồm hai bộ phận: cái biểu hiện và cái đƣợc biểu hiện. Trong cấu trúc ngôn ngữ, đây là một phức thể của những quan hệ giữa những thành phần biểu hiện và những thành phần đƣợc biểu hiện.
Mức độ phức tạp của một cấu trúc từ đƣợc nảy sinh từ mối quan hệ giữa biểu hiện và đƣợc biểu hiện sẽ đƣợc nhân lên và lặp đi lặp lại nhiều lần do sự phản ánh nhiều lần các tƣơng tác trong mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ, tƣ duy và hiện thực. Xtepanov khẳng định: Đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể có đặc trưng như là ký hiệu, đó là từ. Các quan hệ ký hiệu trong từ có nhiều bậc. Đặc trưng hệ thống của từ Các từ đƣợc tập hợp thành những tiểu hệ thống dựa trên các đặc điểm ở mặt biểu hiện và ở mặt đƣợc biểu hiện.
Ở mặt biểu hiện, các từ có thể đƣợc phân theo các đặc điểm về hình thức cấu tạo nhƣ: số lƣợng âm tiết trong một cấu trúc từ, tính chất của mối quan hệ giữa các yếu tố cấu tạo từ. Vì các thuộc tính này bộc lộ từ trên cơ sở các yếu tố hình thức (ngữ âm, ngữ pháp), nên khi gom lại thành từng nhóm, ta có các kiểu cấu tạo từ, ví dụ: từ đơn tiết/ từ đa tiết, từ ghép đẳng lập/ chính phụ, từ láy/ ngẫu hợp, từ phái sinh/ từ ghép thông thƣờng, từ hƣ/ từ thực. Ở mặt đƣợc biểu hiện, tuỳ theo các mối quan hệ về mặt nội dung mà các từ lại đƣợc gom nhóm theo các trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa khác nhau. Khi các thuộc tính nội dung ngữ nghĩa đƣợc tập hợp lại theo hệ thống nét nghĩa có trong một từ, ta có các trường đa nghĩa của một từ.
Khi các nét nghĩa làm nhiệm vụ thống nhất các từ lại thành một nhóm lớn hơn trong vốn từ một ngôn ngữ, ta có các trƣờng đồng nghĩa hay trái nghĩa. Mặt khác, các từ có thể đƣợc cấp cho đặc trƣng hệ thống khi tham chiếu cấp độ này với những cấp độ khác nó trong một hệ thống ngôn ngữ. Chẳng hạn, khi đối chiếu từ với các chức năng tạo thành phần câu, ngƣời ta liền chia các từ thành các phạm trù từ vựng - ngữ pháp. Theo thuật ngữ ngôn ngữ học thƣờng dùng, đó là các hệ thống từ loại của một ngôn ngữ.
Khi đối 10 z chiếu từ với các thầnh phần âm thanh tạo nên vỏ từ, ngƣời ta liên chia các từ thành các nhóm đồng âm và đa nghĩa. Vì ngôn ngữ là hệ thống hoàn chỉnh và luôn luôn có gắn kết hữu cơ, nên bản thân việc phân cấp độ đã là việc làm mang tính tƣơng đối. Chính vì thế, các đặc trƣng từ loại theo cách nhìn của cú pháp lại có cơ sở ngay từ trong các đặc điểm nghĩa của từ, ở cấp độ từ vựng. Chẳng hạn, các danh từ là các từ mang ý nghĩa thực thể trong khi các động từ lại mang ý nghĩa hoạt động trạng thái.
Hoặc khi phân từ thành các phạm trù đồng âm và đa nghĩa từ cách nhìn ngữ âm học, thì bản thân tiến trình từ vựng hoá các yếu tố từ vựng, nhƣ Xtepanov đã từng nhận xét, lại là tiến trình liên tục, đi từ đa nghĩa đến đồng âm! Sự phát triển nghĩa của nội bộ một từ đến một lúc nào đó, theo nguyên tắc tín hiệu học, đƣợc tách ra do nhu cầu dùng và từ một nét nghĩa có trong một hệ thống các nét nghĩa của một từ đã tách riêng ra, sinh hoạt độc lập với vỏ từ đã có sẵn để trở thành một từ độc lập với từ trƣớc đó. Từ đồng âm ra đời. Trở lên trên, chúng ta đã xét đến các phạm trù từ vựng học thông thƣờng. Những phạm trù này có một đặc điểm chung là có sự đều đặn giữa mặt biểu hiện và mặt đƣợc biểu hiện, theo cách hiểu về tính võ đoán trong một hệ thống tín hiệu.
Bản chất của tín hiệu ngôn ngữ là dựa trực tiếp trên tính võ đoán, tính không lí do giữa mặt biểu hiện và đƣợc biểu hiện, do chỗ nó là một hệ thống sử dụng phổ biến cho một tập thể cộng đồng, trong lát cắt đồng đại. Tuy nhiên, ở ngôn ngữ nào cũng có hàng loạt các từ không đảm bảo đƣợc cái đặc trƣng điển hình tín hiệu học về mối tƣơng ứng một - đối một một cách võ đoán, không có lí do này. Đó là các từ mà trƣớc nay đƣợc gọi là nhóm biểu trưng âm thanh. Trong các nhóm từ này, dƣờng nhƣ xuất hiện một liên hệ nào đó giữa hình thức và nội dung.
Những cơ sở của mối liên hệ nhƣ vậy có thể phải tìm trên những đặc điểm tâm lí mà một tộc ngƣời đã hình thành nên trong suốt chiều dài lịch sử. Thay vào tính võ đoán phổ biến là tính 11 z có lí do tƣơng đối, cái chỉ những ngƣời bản ngữ mới nhận cảm và sử dụng đƣợc. Trong một cách nhìn nhận nhƣ vậy, bên cạnh tƣ duy thuần lí cần phải tính đến các cơ sở tâm lí tộc ngƣời khi nghiên cứu về một vốn từ. Hai quá trình từ vựng học cơ bản Nhƣ trên đã nói, hệ thống từ vựng học của một ngôn ngữ có thể đƣợc xem xét theo mối quan hệ giữa cái biểu hiện và đƣợc biểu hiện một cách riêng rẽ cho từng nhóm từ hoặc cho từng từ một.
Nhƣng mặt khác, cũng có thể đƣợc xem xét trong chính mối quan hệ của các từ ở từng mặt biểu hiện và đƣợc biểu hiện. Cách thứ hai đƣa đến tiếp cận từ ngữ theo quan điểm tiến trình. Khi nhấn mạnh đến tính tiến trình của một hệ thống từ vựng học, ta có thể nhìn hệ thống đó theo tƣơng tác giữa mặt biểu hiện và mặt đƣợc biểu hiện theo sự vận động của các đặc điểm hay các đặc trƣng hình thức (âm thanh) và ý nghĩa (nội dung mà từ bao hàm). Nhƣ đã đƣợc các lí thuyết về từ khẳng định, trong bất kì một hệ thống từ vựng học nào cũng có hai quá trình từ vựng học điển hình.
Đó là quá trình đồng âm hoá và quá trình đồng nghĩa hoá.