Chương 1 NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH TRONG NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I. NHUNG QUAN NIEM CO BAN VE TAI CHiNH TRONG NEN KINH TE THI TRUONG.1 TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ TỒN TẠI CỦA TÀI CHÍNH Tài chính chỉ ra đời và tổn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó, có những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tên tại. Có thể xem những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan đó như tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tổn tại và phát triển của tài chính với tư cách một phạm trù kinh tế - lịch sử. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ đã nảy sinh phạm trù tài chính.
Trong mỗi nước, người ta không thể nghĩ đến và công nhận đồng tiền tách rời với vai trò của Nhà nước. Để duy trì quyền lực của Nhà nước, cần phải có sự đóng góp của các công dân dưới hình thức thuế, và trong điều kiện kinh tế hàng hóa - tiền tệ, Nhà nước đã sử dụng mạnh mẽ hình thức tién tệ trong việc phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân như thuế bằng tiền, công trái. để tạo lập ra quỹ tiền tệ riêng có- ngân sách Nhà nước phục vụ cho hoạt động của mình, hình thành lĩnh vực tài chính Nhà nước. Sự vận động độc lập của tiền tệ trong việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ không chỉ là đặc trưng cho hoạt động của Nhà nước, mà là của tất Tc.9 cả các chủ thể trong xã bội: doanh nghiệp, các gia đình dân cư và các tổ chức xã hội.
Các quỹ tiền tệ chẳng những được hình thành và sử dụng cho những mục đích trực tiếp sản xuất hoặc tiêu dùng, mà còn được hìr:h thành như những tụ điểm trung gian để cung ứng phương tiện tiền tệ cho những mục đích trực tiếp. Nhà nước chẳng những tác động đến sự vận động độc lập của tiền tệ, trên phương diện ấn hành hiệu lực của đồng tiền mà còn tạo ra môi trường pháp lý cho sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhất là các quỹ tiền tệ trung gian và ngân sách Nhà nước. Chính trong điều kiện đó, phạm trù tài chính nảy sinh và tồn tại. Do vậy, người ta coi sản xuất hàng hóa - tiển tệ và Nhà nước là những tiền đề phát sinh và phát triển của tài chính.
Ngày nay, Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), những tiền để tổn tại và phát triển của tài chính trong xã hội loài người cũng đang hiện diện ở Việt Nam: sản xuất hàng hóa tiền tệ với kinh tế nhiều thành phần là vấn đề lâu dài, Nhà nước đang phát huy vai trò quản lý đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì thế, tài chính với tư cách một phạm trù kinh tế khách quan đang tồn tại và được sử dụng mạnh mẽ trong sự nghiệp làm cho dân giàu nước mạnh. Để sử dụng đúng đắn phạm trù tài chính với khả năng vốn có của nó và phù hợp với những điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, cần phải xác định nội dung của nó.2 BAN CHAT CỦA TÀI CHÍNH (NỘI DUNG CỦA PHẠM TRÙ TÀI CHÍNH) Trên bề mặt của hiện tượng xã hội, tài chính được cảm nhận như những nguồn lực tài chính, những quỹ tiển tệ khác nhau, đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể trong xã hội. Hơn thế nữa, nói đến tài chính người ta không chỉ thấy tiền tệ ở trạng thái tĩnh, mà thấy những lượng tiền tệ nhất định đang vận động để tạo nên những thế năng về sức mua hay chuyển những.thế năng đó thành hiện thực.
Có thể thấy rất rõ những biểu hiện bề ngoài của tài chính liên quan đến dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và Nhà nước: dân cư, doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nước; dân cư mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu của các doanh nghiệp, của ngân hàng, của kho bạc Nhà nước; người làm công và các doang nghiệp nộp tiền vào quỹ bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm rủi ro; nhà nước cấp phát từ ngân sách của mình cho việc xây dựng đường giao thông, tài trợ cho các trường học v.; các doanh nghiệp sử dụng vốn điều lệ để mua sắm vật tư, thiết bị kinh doanh; các ngân hàng cho các doanh nghiệp vay tiền. Từ những ví dụ trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện, trước hết với chức _ năng phương tiện thanh toán chi trả và phương tiện cất giữ- tiền tệ đại _Tc. diện cho một lượng giá trị, đặc trưng cho một thế năng của sức mua nhất định. Như vậy, trong các hiện tượng gọi là tài chính có thể thấy sự xuất hiện của những nguồn lực - nguồn tài lực (hay nguồn tài chính).
Trong nền kinh tế thị trường (KTTT), mỗi chủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn tài lực uất định là đã nắm trong tay một sức mua để có thể nắm được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định, để phục vụ cho mục đích tích luỹ hay tiêu dùng. Trong thực tế, nguồn tài chính được nói đến dưới nhiều tên gọi: vốn tiền tệ, vốn bằng tiển, tiền vốn và những tên gọi riêng trong các trường hợp cu thể: vốn trong dân, vốn tín dụng, vốn ngân sách. Sự khái quát hóa thực tế đó cho phép xác định: nguồn tài chính là một khía cạnh, là một yếu tố cơ bản trong khái niệm tài chính. Sự vận động của nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những lượng giá trị nhất định.
Những lượng giá tr† này phản ánh những bộ phận của của cải xã hội. Sự vận động độc lập tương đối của của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ đã hình thành một lính vực đặc biệt- lĩnh vực tài chính. Trong điều kiện sản xuất hàng hóa - tiền tệ, khâu phân phối của quá -trình tái sản xuất luôn luôn và trước hết được thực hiện dưới hình thức giá trị bằng con đường tạo lập và sử dụng các quỹ tiển tệ - một đặc trưng quan trọng của tài chính. Các quỹ tiển tệ bao giờ cũng thể hiện tính mục đích của nguồn tài chính.
Đây là tiêu thức chính của các quỹ tiền tệ. Nói một cách khác, các quỹ tiền tệ là một yếu tố nhất định nguồn lực tài chính được dành cho một mục đích nhất định. Ví dụ: ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ đặc biệt của Nhà nước để phục vụ việc thực hiện các chức năng của Nhà nước; vốn điều lệ của doanh nghiệp - một loại quỹ tiển tệ đặc biệt để phục vụ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp cho việc mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn của những người lao động. Tất cả các quỹ tiền tệ đều vận động thường xuyên tức là chúng luôn luôn được tạo lập (hoặc bổ sung) và được sử dụng.
Phần lớn các quỹ tiền tệ đều có mục đích sử dụng cuối cùng - tích lũy hoặc tiêu dùng. Sự phát triển KTTT làm nảy sinh cả thị trường tài chính và làm cho việc tạo lập các quỹ tiền tệ trong xã hội có thể trực tiếp và cũng có thể gián tiếp thông qua thị trường tài chính. Sự tạo lập các quỹ tiền tệ, dù dưới hình thức nào, cũng đặc trưng cho sự tích góp của các nguồn lực tài chính ở những chủ thể trong xã hội; sự tích góp đó phản ánh kết quả của các quá trình phân phối, mà các quá trình đó chịu sự chi phối của quyển sở hữu - một yếu tố cơ bản của quan - hệ sản xuất rất đa dạng trong xã hội. Việc sử dụng các quỹ tiền tệ cũng phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, đồng thời, phụ thuộc vào tính mục đính Tc.tiển tệ, cũng như tùy thuộc vào quy ước, nguyên tắc sử dụng quỹ, .ý chí chủ quan của người sở hữu, trong việc phân phối.
Như vậy, những. hiện tượng bên ngoài, sự vận dong. của các nguồn tài chính, sự tạo lập và. quỹ: tiền tệ là thể.
hiện rõ các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị - một bộ phận của quan-hệ kinh tế trong xã hội. Cũng như các quan hệ:xã hội.trong phân phối dưới một thể chế chính trị nhất định, sự vận động của: các: nguồn lực tài chính luôn thể hiện rõ Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích lĩnh tế thông qua phân phối bị chi phốt. bởi các: quan hé ad hitu trong. kinh tế hoặc: các quan hệ chính trị, xã hội.
Với sự phân tích như trêên, có thể: xác định bản" chất của tài chính trên những nội dung: ‘Su van dong độc lap tương đối của các nguồn tài chính để trực tiếp tạo lập và sử dụng: các quỹ tiền tệ như mặt trực quan của tài chính. : “Đăng sau: những. hiện tượng bề: mặt đó là các quan hệ kinh.phân phối của cải xã hội: dưới hình, thức: phân phối , các nguồn tài chính. _— Việc tạo lập và sti dung cac quy tién té là phương thức phân phối đặc thù giúp, phần biệt phạm trù tài chính với phạm trù phân phối khác như giá ca, tién Tưởng.
¡ Từ đó có thể có định nghĩa của phạm trù tài chính như s sau: Tai chinh được đặc trưng bằng su uận động độc lập tương đối của tiền tệ voi ` chức năng phương tiện thanh toán uà phương tiện cất giữ trong ' quá trình tảo lập hay sử dụng các quỹ: tiền tệ đạt diện cho những ste: ‘mua nhất định: ở các 'chữ thể bình tế- xã hội. Tòi chính phản - ánh tổng hợp các mối quan hệ Binh tế trong phần phối các nguồn : lực tài chính thông qua tao lap hay sw dung cdc quy tién té nhằm _ đáp ứng yêu 'cầu tích luy hay tiêu dùng c của các chủ thể trong xa _ Bản chất của tài ¡ chính còn thể hiện rõ hơn qua cáce chức năng của nó. ở 1, 3 CHỨC NẴNG CUA TAI CHÍNH. a) Chức nang phan phối -.
Chite nang phan: phối. là cái vốn có, nằm sẵn trong phạm. trù tài chính và biểu bản chất của tài chính trong đời sống kinh tế xã hội khi phân phối của cải vật. chất dưới hình thức giá trị, chính nhờ vào chức “nang này mà các nguồn lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào những mục đích sử dung khac nhau, dam bao những nhu : câu khác nhau và những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội.
DOI tugng phân.