Chương 1 giới thiệu tổng quan về cuốn sách. Chương 2 trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của hệ thống đối với tăng trưởng kinh tế. Chương 3 trình bày kết quả phân tích và đánh giá vai trò của HTNH đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình kinh tế vận hành theo “cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” và trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu. Trên cơ sở kết quả phân tích ở chương 3 cùng với quan điểm và phương hướng phát triển HTNH, tác giả sách chuyên khảo đề xuất một số giải pháp phát triển HTNH để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
14 CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HTNH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GIỚI THIỆU CHƯƠNG Mục tiêu của chương này là thảo luận sự cần thiết phải có những đánh giá xác đáng với các minh chứng phù hợp về vai trò của HTNH đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế và chuyển dịch MHTT trong hơn 30 năm qua, từ đó hình thành cơ sở cho các đề xuất nhằm khai thác các tác động tích cực của HTNH đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam và khắc phục các hạn chế của HTNH. Để đạt được mục tiêu này, nội dung chương này tập trung làm rõ : (i) một số lý luận cơ bản về vai trò của HTNH đối với tăng trưởng kinh tế; (ii) các tiếp cận và kết quả của các nghiên cứu liên quan; (iii) Quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam và yêu cầu đối với vai trò của HTNH trong quá trình chuyển đổi kinh tế. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA HTNH 2. Khái niệm HTNH Ngân hàng nói chung được xem là một trung gian tài chính trọng yếu đối với bất cứ nền kinh tế nào.
Phạm vi hoạt động của loại hình trung gian tài chính này được quy định tương đối thống nhất ở các nước trên thế giới mặc dù có những nét đặc thù riêng biệt mang tính quốc gia. Phạm vi hoạt động ngân hàng có thể khái quát chung là hoạt động huy động vốn thông qua nhận tiền gửi và cho vay nền kinh tế, đi cùng với hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán và các dịch vụ tài chính-ngân hàng khác (Rose, 2001; Mishkin, 2020). Trong ngành ngân hàng ở các quốc gia trên thế giới có nhiều loại hình ngân hàng được cấp phép và tham gia hoạt động. Trong đó, ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là loại hình phổ biến nhất, cung ứng một chuỗi sản phẩm và dịch 15 vụ tài chính ngân hàng liên quan đến hoạt động ngân hàng truyền thống là nhận tiền gửi và cho vay, kèm theo các dịch vụ phi truyền thống khác (Rose 1998).
Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam 2010 quy định cụ thể nhiều loại hình TCTD khác nhau và các hoạt động, dịch vụ mà từng loại hình TCTD có thể tham gia. Cũng theo luật các TCTD, NHTM là loại hình thường được cấp phép cung ứng tất cả cách dịch vụ và sản phẩm ngân hàng. Thực tế, ở Việt Nam cũng vậy, NHTM là TCTD phổ biến với số lượng, quy mô tài sản và thị phần chiếm ưu thế. Như vậy, trong HTNH ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, các NHTM thực hiện vai trò chủ chốt trong HTNH và giữ một vị trí thiết yếu trong quá trình vận động của nền kinh tế quốc dân.
Các NHTM và các TCTD khác, trong quá trình thực hiện các chức năng của mình, hình thành nên một kênh kết nối tiết kiệm và đầu tư thiết yếu bậc nhất trong nền kinh tế. Kênh kết nối này giúp tập trung tiền tiết kiệm cá nhân và hộ gia đình phân tán trong nền kinh tế sẽ được tập trung vào HTNH, từ đó nguồn vốn này sẽ được phân bổ thông qua kênh tín dụng đến các dự án đầu tư và các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế. Với nguồn vốn tài trợ từ HTNH, các dự án hiệu quả được triển khai và hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế được tiến hành, từ đó làm gia tăng tổng thu nhập quốc nội, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Trong quá trình cung cấp dịch vụ và sản phẩm ngân hàng, các NHTM và các định chế tín dụng khác mở tài khoản với nhau và với NHTW, kết nối với hệ thống thanh toán quốc gia (và hệ thống thanh toán quốc tế ), tương tác và giao dịch với nhau trên các thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu hoạt động của mình, đồng thời và tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho các chủ thể khác nhau của nền kinh tế, giao dịch với NHTW trên thị trường mở để đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng, hình thành hạ tầng thanh toán cho các thị trường tài chính và bộ phận 16 khác của HTTC.
Toàn bộ hoạt động kinh doanh của các NHTM và các TCTD khác luôn phải tuân thủ tất cả các quy định mang tính quản lý của NHTW nhằm đảm bảo sự ổn định của HTTC cũng như đạt được mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô ở từng giai đoạn. Thông qua tổ chức và hoạt động đặc thù của mình, NHTM và các TCTD khác hình thành nên HTNH, đóng vai trò như trái tim và huyết mạch của nền kinh tế, giúp lưu thông ngồn vốn tài chính để nền kinh tế vận động và phát triển. Như vậy, có thể hiểu HTNH chính là hệ thống các NHTM và các định chế tín dụng khác được NHTW cấp phép hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng với nội dung thường xuyên là huy động vốn thông qua nhận tiền gửi, sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng cho nền kinh tế và cung ứng các dịch vụ thanh toán, đồng thời hoạt động của hệ thống được đặt dưới sự quản lý của NHTW thông qua các luật về ngân hàng và các quy định điều chỉnh hoạt động liên quan. Do NHTM là TCTD chủ yếu và chiếm đa số trong hệ thống nên sách chuyên khảo này sẽ sử dụng thuật ngữ NHTM làm đại diện chung cho các định chế tín dụng trong HTNH.
Đặc trưng của HTNH Hoạt động của HTNH có ba đặc trưng mang tính khái quát (Rose, 2001; Mishkin, 2020). Thứ nhất, các NHTM trong hệ thống là các doanh nghiệp có quy mô lớn xét ở tiêu chí vốn chủ sở hữu và tài sản. Các “doanh nghiệp đặc biệt” này có hệ số đòn bẩy tài chính rất cao do nguồn vốn hoạt động được hình thành chủ yếu từ tiền gửi khách hàng. Về mặt cấu trúc, bên tài sản của bảng cân đối kế toán của các NHTM chủ yếu là các khoản cho vay.
Tuy nhiên, trong quá trình đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ, cũng như đa dạng hoá nguồn thu nhập, tỷ trọng tài sản là các khoản tín dụng cho nền kinh tế co xu hướng giảm đi phần nào. Thứ hai, trong quá trình kinh doanh, các NHTM đối mặt với nhiều loại rủi ro đặc thù. Các rủi ro thường được các NHTM cũng như các chủ thể kinh tế khác đặc biệt quan tâm bao gồm: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại 17 hối, rủi ro vận hành, rủi ro đạo đức và rủi ro rút tiền hàng loạt (risk of bank run). Các rủi ro này có thể có mối quan hệ nhân quả.
Ví dụ, rủi ro tín dụng phát sinh có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản. Rủi ro vận hành và rủi ro đạo đức có thể làm phát sinh rủi ro tín dụng, từ đó kéo theo rủi ro thanh khoản, thậm chí rủi ro rút tiền hàng loạt. HTNH hoạt động trên nền tảng một mạng lưới có tính bao phủ rộng khắp, là nơi tập trung nguồn tiết kiệm và vốn nhàn rỗi từ công chúng, từ đó phân bổ vốn đến các dự án đầu tư hoặc các doanh nghiệp thông qua hoạt động cấp tín dụng. Vì vậy, hoạt động của HTNH thường có tác động ngay đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thực, từ đó ảnh hưởng đến đến đời sống kinh tế xã hội.
Chính vì vậy, hoạt động của HTNH chịu sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương thông qua các luật và các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh ngân hàng. Thứ ba, NHTM trong hệ thống có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn, theo đó mỗi một ngân hàng vận hành như một mắt xích trong quá trình kết nối tiết kiệm và đầu tư và trong quá trình lưu chuyển dòng tiền thanh toán giữa các chủ thể. Vì vậy, rủi ro xảy đến với một NHTM, đặc biệt là rủi ro rút tiền hàng loạt của công chúng, có thể lan truyền nhanh sang các NHTM khác trong hệ thống, nhất là trong tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng gia tăng. Trong quá trình nền kinh tế vận hành, khu vực ngân hàng thường chịu ảnh hưởng trước tiên của các biến động kinh tế, nhất là các biến động mang tính chu kỳ.
Đặc điểm này thể hiện rõ ở biến động giá cổ phiếu của các NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán – chúng thường biến động cùng nhau trước các biến động kinh tế hoặc trước những thay đổi chính sách. Chức năng của HTNH HTNH thực hiện ba chức năng cơ bản. Chức năng quan trọng đầu tiên của HTNH là chức năng trung gian tín dụng. Với chức năng này, NHTM đóng vai trò như là cầu nối giữa các chủ thể có vốn nhàn rỗi và chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn, thiết lập và vận hành kênh dẫn vốn giữa tiết kiệm và đầu tư.
Chức năng trung gian 18 tín dụng phản ánh hoạt động truyền thống của NHTM là nhận tiền gửi và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Hoạt động truyền thống tạo ra nguồn thu nhập chính yếu cho các NHTM, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, buộc NHTM phải quan tâm xây dựng môi trường và hệ thống quản trị rủi ro phù hợp. Chức năng thứ hai của HTNH là chức năng trung gian thanh toán. Với chức năng này, các NHTM mở tài khoản cho các cá nhân và tổ chức, duy trì số dư tiền gửi của các chủ tài khoản và thực hiện thanh toán theo yêu cầu của các chủ tài khoản.
Đảm nhiệm chức năng này, NHTM cung ứng hàng loạt phương tiện thanh toán tiện lợi, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số, đáp ứng nhu cầu thanh toán trong nước cũng như quốc tế.