Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Giáng Hương, bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2013, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Nga, nghiên cứu vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay" từ góc độ triết học, cụ thể là nhìn từ mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xuất phát từ ba luận điểm: (1) phụ nữ chiếm gần một nửa dân số xã hội, có sức lao động dồi dào và óc sáng tạo phong phú, là nguồn lực to lớn và quan trọng có thể khai thác để phát triển kinh tế - xã hội; (2) Việt Nam chịu ảnh hưởng tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" của Nho giáo, điều kiện xuất phát của đất nước vốn lạc hậu, dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử có tính bất công đối với phụ nữ vẫn còn tồn tại; (3) trên quy mô toàn cầu, các quốc gia ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ chất lượng cao (NNLNcLc), song ở Việt Nam, nguồn lực này vẫn chưa được khai thác và phát triển đúng với khả năng của nó. Tác giả cho rằng việc không khai thác được NNLNcLc đồng nghĩa với "đánh mất đi một nửa sức mạnh của đất nước cho phát triển kinh tế - xã hội."
Luận án đặt câu hỏi trung tâm: phát triển NNLNcLc nhìn từ góc độ tác động qua lại giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan diễn ra như thế nào, và trên cơ sở đó tìm ra giải pháp khả thi để phát triển NNLNcLc đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: làm rõ sự cần thiết và những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan cơ bản tác động đến việc phát triển NNLNcLc ở Việt Nam hiện nay; đánh giá thực trạng; từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNLNcLc đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới. Luận án xác định bốn nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài, kế thừa các giá trị tích cực của công trình trước.
- Hệ thống hóa và luận giải những khái niệm cơ bản; phân tích tầm quan trọng và những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan cơ bản tác động tới việc phát triển NNLNcLc.
- Phân tích thực trạng, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra trong việc phát triển NNLNcLc ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNLNcLc ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tiếp cận từ góc độ triết học, nhìn từ mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào NNLNcLc trong độ tuổi học tập và lao động, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ khi Đảng tiến hành đổi mới đất nước, với trọng tâm là lĩnh vực lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và khoa học, công nghệ. Tác giả đặt giả thiết rằng các lĩnh vực khác cũng có điều kiện phát triển tương tự.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Nhóm công trình về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nói chung:
- PTS Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế Thế giới, 1996), Phát triển nguồn nhân lực - Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, NXB CTQG, Hà Nội — giới thiệu vai trò của nguồn nhân lực (NNL) trong nền kinh tế đổi mới và kinh nghiệm phát triển NNL qua giáo dục tại một số nước.
- TS Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên, 1996), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài, NXB Giáo dục, Hà Nội.
- PTS Phạm Tất Dong (chủ nhiệm đề tài Khoa học xã hội 0309, 1999), CNH, HĐH và tầng lớp trí thức — làm rõ vấn đề đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH.
- TS Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, NXB CTQG.
- Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, NXB Lao động - Xã hội — trình bày lý luận và thực tiễn phát triển, phân bổ và sử dụng nguồn lực con người, đánh giá 15 năm đổi mới, giới thiệu kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc.
- Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (chủ biên, 2004), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học Xã hội.
- Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, NXB Lý luận Chính trị — phân tích vai trò của nguồn lực con người trong CNH, HĐH.
- Phạm Thành Nghị (chủ biên, 2006), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH đất nước, NXB Khoa học Xã hội — phân tích khác biệt trong quản lý NNL ở ba khu vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 7 năm 2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011–2020.
- TS Phạm Hồng Tung (chủ biên, 2008), Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam, NXB CTQG.
- Nguyễn Thị Thu Phương (chủ biên, 2009), Chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay, NXB CTQG.
- TS Nguyễn Văn Khánh (chủ biên, 2010), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, NXB CTQG — đề tài KX.22/06-10, tiếp cận liên ngành.
- Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủ nghĩa Xã hội Khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở: Phát triển NNLcLc đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức.
Nhóm bài báo khoa học đáng chú ý:
- TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển NNLcLc trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị số 8/2002.
- TS Bùi Thị Ngọc Lan (2007), Một số bổ sung, phát triển trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị, T2/2007.
- TS Phan Thanh Khôi (2008), Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị, tháng 3/2008.
- TS Đàm Đức Vượng (2008), Báo cáo tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, T12/2008.
- Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Văn Dao, Vấn đề phát triển NNLcLc ở nước ta hiện nay, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 329, tháng 2/2008.
- Nguyễn An Ninh, Lê Thị Ánh Tuyết, Vài kinh nghiệm xây dựng và phát huy NNLcLc từ Dung Quất, Tạp chí Lao động Công đoàn, số 436, tháng 9/2009.
- TS Hoàng Văn Châu (2009), Phát triển NNLcLc cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại số 38/2009.
- TS Nguyễn Văn Khánh, TS Hoàng Thu Hương (2010), Đào tạo NNLcLc ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu Con người số 1/2010.
- TS Nguyễn Huy Hiệu (2011), Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 6/2011.
- TS Văn Tất Thu (2011), Nhân tài và những vấn đề cơ bản trong sử dụng, trọng dụng nhân tài, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 1/2011.
- TS Đỗ Thị Thạch (2011), Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7/2011.
Nhóm công trình về nguồn nhân lực nữ, nữ trí thức và phụ nữ:
- Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
- TS Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, NXB CTQG.
- Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2005), Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị, Phát triển NNLcLc để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng Giảng viên Lý luận Chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Trần Thị Thu (2003), Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH (Phân tích tại Hà Nội), NXB Lao động - Xã hội.
- Võ Thị Mai (2003), Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình CNH, HĐH, NXB Chính trị Quốc gia.
- Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia.
- Tác giả Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn nhân lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, NXB Chính trị Quốc gia.
- Nguyễn Đức Hạt (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, NXB Chính trị Quốc gia.
- Viện Gia đình và Giới (2009), Kết quả nghiên cứu định tính về nữ lãnh đạo khu vực Nhà nước ở Việt Nam.
- Nguyễn Thị Kim Dung (2010), Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ, NXB Dân trí.
- Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diện (chủ biên, 1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài - kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước, NXB CTQG — nghiên cứu tư tưởng nhân tài của Đặng Tiểu Bình và kinh nghiệm Trung Quốc.
- Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng, NXB Thế giới — kinh nghiệm của Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả xác định ba khoảng trống chưa được lấp đầy: (1) chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về NNLNcLc trong quá trình phát triển dưới góc độ triết học theo tinh thần Đại hội XI; (2) tiềm năng của NNLNcLc với tư cách là một bộ phận cấu thành NNLcLc chưa được phân tích đầy đủ, các công trình chủ yếu dừng ở mức khái quát về nữ trí thức hoặc nhà khoa học nữ; (3) chưa có chuyên khảo nào đề xuất giải pháp thiết thực để khắc phục bất bình đẳng giới trong chiến lược NNLNcLc nói riêng và NNLcLc của Việt Nam nói chung.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết và khung phân tích
Luận án được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, vai trò của phụ nữ và giải phóng phụ nữ. Khung phân tích trung tâm là mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan (bối cảnh kinh tế - xã hội, thể chế chính sách, môi trường văn hóa - gia đình) và nhân tố chủ quan (ý chí, nỗ lực bản thân, năng lực cá nhân của NNLNcLc).
Các khái niệm cơ bản được tác giả hệ thống hóa bao gồm: nguồn nhân lực (theo Từ điển Tiếng Việt, theo định nghĩa của Liên hợp quốc, theo Ngân hàng Thế giới), nguồn nhân lực nữ (NNLN), nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLcLc) và nguồn nhân lực nữ chất lượng cao (NNLNcLc).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận. Các phương pháp cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử và logic
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Xử lý số liệu thống kê
- Phương pháp liên ngành của xã hội học và khoa học về giới
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Tác giả sử dụng các nguồn tư liệu thứ cấp gồm: văn kiện Đảng (đặc biệt Văn kiện Đại hội XI), báo cáo của các cơ quan nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ ngành liên quan), số liệu thống kê chính thức của các cơ quan chức năng đã công bố, các công trình khoa học trong nước và ngoài nước, cùng kết quả nghiên cứu định tính của Viện Gia đình và Giới (2009).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đề tài luận án
Chương này trình bày hai nội dung lớn. Phần đầu hệ thống hóa toàn bộ mảng tài liệu liên quan theo ba nhóm: công trình về NNL và phát triển NNL nói chung; công trình về NNLcLc; và công trình về NNLN, nữ trí thức, phụ nữ. Phần sau chỉ ra những giá trị tác giả luận án cần tham khảo, đồng thời xác định ba vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu: thiếu công trình hệ thống về NNLNcLc từ góc độ triết học theo tinh thần Đại hội XI; chưa phân tích đầy đủ tiềm năng của NNLNcLc với tư cách bộ phận cấu thành NNLcLc; và thiếu giải pháp thiết thực khắc phục bất bình đẳng giới trong chiến lược phát triển NNLcLc.
Chương 2: Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay - Nhìn từ mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
Chương 2 xây dựng khung lý luận toàn diện. Tác giả hệ thống hóa các khái niệm: nguồn nhân lực, NNLN, NNLcLc, NNLNcLc; phân tích tầm quan trọng của việc phát triển NNLNcLc ở Việt Nam hiện nay với tư cách là bộ phận của NNLN (chiếm gần một nửa dân số) và bộ phận của NNL quốc gia. Tác giả lấy dẫn chứng từ kinh nghiệm Thụy Điển — nơi phụ nữ có đầy đủ các quyền bình đẳng tuyệt đối như nam giới và "hiện có ½ phụ nữ tham gia lãnh đạo trong nghị viện, chính phủ và ban lãnh đạo các địa phương" [31] — để làm rõ tầm quan trọng của vấn đề.
Phần trọng tâm của chương phân tích các điều kiện khách quan (trình độ phát triển kinh tế - xã hội, thể chế pháp luật, chính sách, môi trường văn hóa - gia đình, phong tục tập quán) và các nhân tố chủ quan (năng lực, ý chí, nỗ lực bản thân, nhận thức của NNLNcLc) tác động đến việc phát triển NNLNcLc. Khung phân tích nhấn mạnh rằng muốn khai thác tối đa sức mạnh của NNLNcLc thì phải kết hợp có hiệu quả sự tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Chương 3: Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 trình bày bức tranh thực trạng NNLNcLc tại Việt Nam thông qua hệ thống số liệu thống kê chính thức. Một số bảng số liệu chính được tác giả sử dụng:
| Bảng | Nội dung |
|---|---|
| Bảng 3.4 | Tỷ lệ NLNcLc phân theo trình độ tham gia hoạt động kinh tế - xã hội |
| Bảng 3.5 | Tỷ lệ NNLNcLc có học hàm, học vị từ năm 2007–2011 |
| Bảng 3.7 | Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức vụ trong các cấp ủy Đảng |
| Bảng 3.8 | Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức danh trong Quốc hội |
| Bảng 3.10 | Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức danh trong HĐND các cấp |
| Bảng 3.11 | Tỷ lệ nhân lực nữ lãnh đạo, quản lý Nhà nước cấp Trung ương |
| Bảng 3.12 | Tỷ lệ nhân lực nữ tham gia UBND các cấp |
| Bảng 3.13 | Một số chỉ tiêu cơ bản liên quan đến chăm sóc thai sản, 2001–2009 |
| Bảng 3.14 | Số giờ làm việc nhà bình quân 1 người/ngày của dân số chia theo giới tính và trình độ học vấn |
| Bảng 3.15 | Thu nhập bình quân/tháng của NNLcLc |
Số liệu tổng hợp từ các bảng trên cho thấy tỷ lệ NNLNcLc tham gia lãnh đạo ở các cấp ủy Đảng, Quốc hội, HĐND và UBND còn thấp so với nam giới; số giờ làm việc nhà không được trả công mà phụ nữ phải gánh chịu nhiều hơn nam giới ở tất cả trình độ học vấn; đây là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở NNLNcLc phát huy tiềm năng.
Phần sau của chương xác định một số vấn đề đặt ra từ thực trạng: bất bình đẳng giới trong tiếp cận vị trí lãnh đạo, quản lý; gánh nặng công việc gia đình chưa được chia sẻ công bằng; thiếu chính sách hỗ trợ đặc thù gắn với đặc điểm sinh học và xã hội của phụ nữ; tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" vẫn còn ảnh hưởng trong xã hội và trong chính sách cán bộ.
Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất hai nhóm giải pháp có cấu trúc đối xứng với khung phân tích ở Chương 2.
Nhóm giải pháp thuộc về điều kiện khách quan bao gồm các giải pháp về hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật; đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; cải thiện điều kiện lao động và bảo trợ xã hội; xây dựng môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh thúc đẩy bình đẳng giới thực chất.
Nhóm giải pháp thuộc về nhân tố chủ quan tập trung vào việc nâng cao nhận thức, ý chí, khả năng tự vươn lên của NNLNcLc; tăng cường vai trò của các tổ chức phụ nữ; phát huy động lực nội sinh của bản thân NNLNcLc trong việc không ngừng học tập, rèn luyện và đóng góp vào sự phát triển đất nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Tác giả tự nêu các đóng góp về mặt khoa học của luận án như sau:
Đóng góp về lý luận:
- Góp phần làm rõ thêm về NNLNcLc, phát triển NNLNcLc và tầm quan trọng của việc phát triển NNLNcLc ở Việt Nam hiện nay.
- Góp phần phân tích thêm từ tiếp cận giới về NNLNcLc của Việt Nam hiện nay thuộc về điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
- Bước đầu có những tiếp cận mới về vấn đề giới trong chiến lược NNLNcLc nói riêng và NNLcLc của Việt Nam nói chung — đây là điểm khác biệt so với các công trình trước chủ yếu xem xét NNL, NNLcLc, nữ trí thức ở góc độ số lượng và chất lượng chung, chưa đặt vấn đề NNLNcLc trong khung phân tích triết học có hệ thống.
Đóng góp về thực tiễn:
- Góp phần bổ sung thêm những cơ sở khoa học có thể tham khảo trong hoạch định chiến lược và chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề phát triển NNLNcLc ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu theo hai nhóm (điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan) nhằm phát triển NNLNcLc đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập về NNLNcLc, về giới và phát triển trong các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án không trình bày một mục riêng về hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp. Tuy nhiên, từ phạm vi nghiên cứu tác giả đã xác định, có thể nhận thấy một số giới hạn nội tại:
- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và khoa học, công nghệ, với giả thiết rằng các lĩnh vực khác "cũng có điều kiện phát triển giống như các lĩnh vực này" — đây là giả thiết tác giả tự đặt ra mà không kiểm chứng trực tiếp trong phạm vi luận án.
- Luận án sử dụng chủ yếu số liệu thứ cấp; không có nghiên cứu điền dã, phỏng vấn hay khảo sát gốc về NNLNcLc.
- Năm bảo vệ là 2013, nên số liệu và phân tích chính sách chỉ phản ánh thực trạng đến thời điểm đó, đặc biệt số liệu học hàm, học vị dừng ở năm 2011.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:
- Nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh trong lĩnh vực triết học xã hội, khoa học về giới, nhân lực học và chính sách công — đặc biệt ở phần xây dựng khung lý luận về mối quan hệ điều kiện khách quan - nhân tố chủ quan và phần tổng quan tài liệu (Chương 1) vốn tập hợp hệ thống đầy đủ các công trình liên quan đến NNL, NNLcLc và NNLN tính đến năm 2011–2012.
- Giảng viên các môn Triết học, Xã hội học giới, Khoa học quản lý tại các trường đại học và cao đẳng — tác giả cũng đề cập mục đích này.
- Nhà hoạch định chính sách thuộc Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ban Tổ chức Trung ương và các bộ ngành có liên quan — đặc biệt ở phần thực trạng (Chương 3) với các bảng số liệu về tỷ lệ đại diện nữ trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý và phần đề xuất giải pháp (Chương 4).
Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống bảng số liệu ở Chương 3 (Bảng 3.5 đến 3.15) về tỷ lệ NNLNcLc trong các vị trí lãnh đạo giai đoạn 2001–2011, và phần phân tích gánh nặng công việc nhà không được trả công phân theo giới tính và trình độ học vấn (Bảng 3.14).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "nguồn nhân lực nữ chất lượng cao" (NNLNcLc) theo tiêu chí nào?
Luận án tiếp cận khái niệm NNLNcLc trên cơ sở tổng hợp các định nghĩa về NNL từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm Từ điển Tiếng Việt (nhân lực gồm thể lực, trí lực và tâm lực, trong đó trí lực giữ vai trò quyết định), định nghĩa của Liên hợp quốc ("trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người") và định nghĩa của Ngân hàng Thế giới. NNLNcLc được xác định là bộ phận của NNLcLc — vừa là bộ phận của phụ nữ Việt Nam, vừa là bộ phận của NNL quốc gia, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, được xem xét trong độ tuổi học tập và lao động, tập trung vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và khoa học, công nghệ.
2. Tỷ lệ NNLNcLc tham gia lãnh đạo, quản lý ở các cấp ủy Đảng, Quốc hội và UBND được phản ánh như thế nào trong số liệu của luận án?
Luận án trình bày số liệu cụ thể qua các bảng từ 3.7 đến 3.12. Bảng 3.7 phản ánh tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức vụ trong các cấp ủy Đảng; Bảng 3.8 về tỷ lệ nữ trong Quốc hội; Bảng 3.10 về tỷ lệ nữ trong HĐND các cấp; Bảng 3.11 về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý Nhà nước cấp Trung ương; và Bảng 3.12 về tỷ lệ nữ tham gia UBND các cấp. Các số liệu này được sử dụng để làm rõ khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế đại diện của NNLNcLc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý.
3. Luận án giải thích nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng NNLNcLc chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng?
Tác giả xác định hai nhóm nguyên nhân. Về điều kiện khách quan: điều kiện xuất phát của đất nước vốn lạc hậu; ảnh hưởng tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" của Nho giáo; phân biệt đối xử có tính bất công về giới vẫn tồn tại ở các mức độ khác nhau; phụ nữ phải gánh chịu số giờ làm việc nhà không được trả công nhiều hơn nam giới ở tất cả trình độ học vấn (Bảng 3.14); các chỉ tiêu liên quan đến chăm sóc thai sản còn hạn chế (Bảng 3.13, giai đoạn 2001–2009). Về nhân tố chủ quan: nhận thức, ý chí và khả năng tự vươn lên của một bộ phận NNLNcLc còn hạn chế.
4. Cơ sở phương pháp luận triết học được áp dụng trong luận án là gì, và điều đó khác biệt thế nào so với các tiếp cận nghiên cứu khác về cùng chủ đề?
Luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận, kết hợp với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng phụ nữ. Điểm khác biệt so với các công trình trước (như luận án của Lê Thị Hồng Điệp tiếp cận từ kinh tế chính trị, hay các công trình xã hội học của Viện Gia đình và Giới) là tác giả đặt vấn đề phát triển NNLNcLc trong khung phân tích mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan — một khung phân tích đặc trưng của triết học Mác - Lênin — thay vì phân tích đơn thuần từ số lượng, chất lượng hay quan hệ cung - cầu lao động.
5. Tại thời điểm luận án được bảo vệ (2013), tác giả nhận định gì về học hàm, học vị của NNLNcLc trong giai đoạn 2007–2011?
Số liệu được trình bày tại Bảng 3.5 (Tỷ lệ NNLNcLc có học hàm, học vị từ năm 2007 đến 2011), song luận án không trình bày bảng số liệu cụ thể trong phần fulltext được cung cấp mà chỉ liệt kê tên bảng trong danh mục các bảng. Đây là một trong những cơ sở thực chứng để tác giả đánh giá thực trạng NNLNcLc có trình độ học thuật cao trong hệ thống giáo dục và khoa học của Việt Nam giai đoạn đó.
Kết luận
Luận án của Nguyễn Thị Giáng Hương (2013) là công trình nghiên cứu triết học có hệ thống đầu tiên đặt vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam trong khung phân tích biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI. Luận án đóng góp vào việc làm rõ khái niệm, phân tích thực trạng qua hệ thống bảng số liệu thống kê chính thức về đại diện nữ trong lãnh đạo và quản lý giai đoạn 2001–2011, và đề xuất hai nhóm giải pháp có cấu trúc đối xứng với khung lý luận. Công trình lấp đầy khoảng trống về góc độ triết học trong nghiên cứu NNLNcLc, bổ sung thêm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy về giới và phát triển tại các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam.