LUẬN KINH KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT Tập 25, Thích Kinh Luận Bộ ,số 1510b, 3 quyển, Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Luận , Vô Trước Bồ Tát tạo Tùy Đạt Ma Cấp Đa dịch, Nguyên Huệ Việt Dịch ---o0o--- Nguồn http://www.org Chuyển sang ebook 28-6-2009 Người thực hiện : Nam Thiên - namthien@gmail.com Link Audio Tại Website http://www.org Mục Lục QUYỂN 1 QUYỂN 2 QUYỂN 3 ---o0o--- QUYỂN 1 Xuất sinh pháp Phật không gì hơn Hiển bày pháp giới là bậc nhất Kim cương khó hoại, câu nghĩa hợp Tất cả Thánh nhân không thể nhập. Tiểu Kim Cương Ba-la-mật nầy Do tên như thế nêu uy lực Bậc Trí đã thuyết giảng giáo, nghĩa Nghe rồi chuyển vì chúng con nói. Quy mạng hết thảy bậc Giác ngộ Đều đem tâm chánh mà đảnh lễ Con nên tinh tấn lập nghĩa ấy Giải thích nối tiếp vì mình, người. * Luận nêu: Thành lập bảy thứ Nghĩa cú rồi, thì Bát-nhã Ba-la-mật nầy liền được thành lập.
Bảy Nghĩa cú là: 1. Chủng tánh không đoạn. Phát khởi hành tướng. Nêu trụ xứ của hành.
Bảy nghĩa như thế được thành lập từ trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật nên gọi là Nghĩa cú. Ở đây, sáu Nghĩa cú trước là hiển thị chỗ tạo tác rốt ráo của Bồ-tát. Nghĩa cú thứ bảy hiển thị việc thành lập pháp môn ấy. Nên nhận biết như thế.
Bát-nhã Ba-la-mật nầy, vì Phật chủng không đoạn dứt nên lưu hành ở đời. Thượng tọa Tu-bồ-đề, ngay nơi phần đầu kinh đã bạch Phật: Hy hữu thay! Đức Thế Tôn! Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đã khéo hộ niệm các Bồ-tát, đã khéo phó chúc các Bồ-tát v. * Nghĩa cú thứ hai: Phát khởi hành tướng Như kinh viết: Thế nào là Bồ-tát ở trong Đại thừa phát khởi tâm cầu đạt đạo quả Bồ-đề Vô thượng? v.v… * Nghĩa cú thứ ba: Nêu trụ xứ của hành Nghĩa là nêu trụ xứ của hành tướng được phát khởi kia. Ở đây lại có 18 thứ, nên biết: 1.
Như kinh nói: Các Bồ-tát nên sinh tâm như thế, đối với tất cả chúng sinh hiện có v. Hành Ba-la-mật tương ưng. Như kinh nêu: Không trụ nơi sự để hành bố thí v. Muốn đạt được Sắc thân.
Như kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Có thể dùng tướng thành tựu để thấy Như Lai chăng? v. Muốn đạt được Pháp thân. Kinh viết: Tu-bồ-đề bạch Phật: Thế Tôn! Nếu có chúng sinh nơi đời vị lai v. Ở trong việc tu đạo đạt được pháp thù thắng, không kiêu mạn.
Kinh viết: Tu-đà-hoàn có thể khởi niệm nầy v. Không lìa lúc Phật xuất hiện ở đời. Kinh nêu: Theo ý của Tôn giả là thế nào? Như Lai, về thời xa xưa, ở nơi trụ xứ của Phật Nhiên Đăng v. Nguyện làm thanh tịnh cõi Phật.
Kinh viết: Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói như vầy: Ta đã trang nghiêm quốc độ Phật v. Thành thục chúng sinh. Kinh nêu: Tu-bồ-đề! Ví như có người thân như núi chúa Tu-di v. Xa lìa việc thuận theo nẻo tán loạn của ngoại luận.
Kinh viết: Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Như số lượng cát hiện có trong sông Hằng v. Sắc thân cùng chúng sinh thân giữ lấy chỗ hợp với quán, làm rõ hành tương ưng. Kinh nêu: Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Số lượng vi trần hiện có trong Tam thiên đại thiên thế giới v. Cúng dường, hầu cận Như Lai.
Kinh viết: Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Có thể dùng ba mươi hai tướng của bậc đại nhân để thấy Như Lai chăng? v. Xa lìa mọi thứ lợi dưỡng cùng phiền não bức bách và mệt nhọc, thiếu thốn, khiến tinh tấn không khởi cùng thối chuyển. Kinh nêu: Tu-bồ-đề! Nếu các thiện nam, thiện nữ dùng Hằng hà sa số thân v. Nhẫn chịu khổ.
Kinh nêu: Như Lai nói Nhẫn nhục Ba-la-mật v. Lìa vị tịch tĩnh. Kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Như các thiện nam, thiện nữ, có thể đối với pháp môn nầy thọ trì, đọc tụng, tu tập v. Vào lúc chứng đạo, xa lìa hỷ động.
Kinh viết: Thế Tôn! Thế nào là Bồ- tát phát tâm cầu đạt đạo quả Bồ-đề Vô thượng? v. Cầu được chỉ dạy, trao truyền. Kinh viết: Ý như thế nào? Như Lai ở nơi trụ xứ của Phật Nhiên Đăng có pháp nào để đắc đạo quả Bồ-đề Vô thượng chăng? v. Kinh nêu: Ví như có người thân vi diệu, to lớn v.
Cầu đạt Phật địa. Kinh viết: Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói như vầy: Ta đã trang nghiêm quốc độ của Phật, tức không gọi là Bồ-tát v.v… Những trụ xứ ấy, tóm lược làm 8 loại cũng được đầy đủ: 1. Trụ xứ gồm thâu. Trụ xứ Ba-la-mật thanh tịnh.
Trụ xứ mong muốn. Trụ xứ lìa chướng ngại. Trụ xứ tâm tịnh. Trụ xứ cứu cánh.
Trụ xứ rộng lớn. Trụ xứ thâm diệu. Ở đây: + Trụ xứ gồm thâu: Nghĩa là phát tâm. + Trụ xứ Ba-la-mật thanh tịnh: Là hành Ba-la-mật tương ưng.
+ Trụ xứ mong muốn: Là muốn đạt được Sắc thân, Pháp thân. + Trụ xứ lìa chướng ngại: Là mười hai thứ còn lại. + Trụ xứ tâm tịnh: Là chứng đạo. + Trụ xứ cứu cánh: Là trên cầu Phật địa.
+ Trụ xứ rộng lớn và trụ xứ thâm diệu: Là chung cho tất cả trụ xứ. Ở trong Trụ xứ thứ nhất: Nếu nói Bồ-tát nên sinh tâm như thế, đối với chúng sinh hiện có, đấy là rộng lớn. Lại nói: Nếu Bồ-tát có tướng chúng sinh v.v… Đấy là thâm diệu. Trong Trụ xứ thứ hai: Nếu nói Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố thí v.v… Đây là thâm diệu.
Nếu lại nói: Tụ phước hiện có kia là không thể lường xét v.v… Đấy là rộng lớn. Như thế, ở trong các trụ xứ còn lại, tính chất rộng lớn, thâm diệu, nên biết là theo chỗ tương ưng. * Đã nói về Trụ xứ. Nghĩa cú thứ tư: Đối trị Hành tướng ấy tương ưng như thế, lúc hành các trụ xứ, nên biết là có 2 thứ đối trị: 1.
Hành chánh cùng kiến. Ở đây, kiến tức là phân biệt. Trong trụ xứ thứ nhất: Nếu nói Bồ-tát nên sinh tâm như thế nơi chúng sinh hiện có: Đây là đối trị hành tà. Vì sinh tâm như thế là Bồ-tát hành tà.
Nếu lại nói: Như Bồ-tát có tưởng chúng sinh v.v… Đây là đối trị hành chánh cùng kiến. Vì phân biệt chấp ấy, Bồ-tát cũng nên đoạn trừ, nghĩa là: Ta nên độ chúng sinh đưa họ đến giải thoát. Nơi trụ xứ thứ hai: Như nói: Nên hành bố thí. Đây là đối trị hành tà.
Vì không phải đối với bố thí là hành tà của Bồ-tát. Như lại nói: Trụ nơi sự v.v… Đây là đối trị hành chánh cùng kiến. Vì phân biệt chấp nầy, Bồ-tát cũng nên đoạn trừ. Nghĩa là nên hành bố thí.
* Nghĩa cú thứ năm: Không lỗi Nghĩa là lìa hai biên. Thế nào là hai biên? Nghĩa là biên tăng ích và biên tổn giảm. Nếu ở trong pháp như ngôn từ, phân biệt chấp có tự tánh, là biên tăng ích. Hoặc ở trong sự của pháp vô ngã mà chấp là không, là biên tổn giảm.
Trong đây, như nói: Thế Tôn! Nếu tụ phước chẳng phải là tụ phước v.v… Đây là nhằm ngăn chận biên tăng ích. Do tụ phước kia không có tự tánh phân biệt. Hoặc lại nói: Thế nên Như Lai nói là tụ phước. Đây là nhằm ngăn chận biên tổn giảm.
Vì tụ phước ấy không như ngôn từ có tự tánh, nhưng có sự để có thể nêu bày, do Như Lai nói tụ phước. Đây là được hiển thị như thế. Tu-bồ-đề! Phật pháp, Phật pháp ấy, Như Lai nói là phi Phật pháp: Đây là nhằm ngăn chận biên tăng ích. Đó gọi là Phật pháp: Đây là ngăn chận biên tổn giảm.
Ở đây, Như Lai nói là phi Phật pháp: Là hiển bày nghĩa không lỗi. Đó gọi là Phật pháp: Là hiển bày nghĩa tương ưng. Thế nào là tương ưng? Nếu Phật pháp, như nói có tự tánh, tức Như Lai không nói là Phật pháp. Do tuy không nói cũng tự nhận biết, vì vậy không có tự tánh.
Vì thế đế nên Như Lai nói, gọi là Phật pháp. Như thế, nơi tất cả xứ đã hiển thị nghĩa không chung và nghĩa tương ưng, nên biết. Lại nữa, Phật pháp: Là gồm thâu sự Ba-la-mật cùng các pháp Bồ-đề phần như Niệm xứ v.v… Nên biết, Bồ-tát lìa hai biên ấy, nên ở nơi sự đối trị kia không còn có lỗi. Đó gọi là không lỗi.
* Nghĩa cú thứ sáu: Nêu địa Địa nầy có 3 thứ: 1. Địa Tâm tịnh. Địa Như Lai. Trong đó: + Mười sáu xứ trước là hiển bày địa Tín hành.
+ Trụ xứ chứng đạo là địa Tâm tịnh. + Trụ xứ cầu đạt Phật địa là địa Như Lai. * Nghĩa cú thứ bảy: Lập danh Gọi là kim cương năng đoạn: Tên gọi nầy có hai tướng nghĩa, nên biết, như nói: Hành nhập chánh kiến, hành nhập tà kiến. + Kim cương: Là vi tế, cứng chắc.
Vi tế: Là nhân của trí. Cứng chắc: Là không thể hoại. + Năng đoạn: Là đối tượng đoạn trừ của văn tư tu trong Trí tuệ Ba-la-mật, như xứ đoạn của kim cương mà đoạn. Đó gọi là kim cương năng đoạn.
Lại như vẽ hình kim cương, trước sau rộng, giữa thì hẹp. Như vậy, trong Trí tuệ Ba-la-mật, hẹp là địa Tâm tịnh. Trước, sau rộng là địa Tín hành, địa Như Lai. Đây là hiển thị nghĩa không chung.
Năm thứ Nghĩa cú kia, càng lên trên càng nương dựa, nên biết là tất cả đều nương dựa nơi địa. * Kinh viết: “Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Bà-già-bà ở tại khu vườn rừng Kỳ-đà – Cấp Cô Độc thuộc thành Xá-bà-đề, cùng với chúng Đại Tỳ- kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị hội đủ. Bấy giờ, sắp vào giờ thọ trai, Đức Thế Tôn mặc y, bưng bát, vào đại thành Xá-bà-đề, theo thứ lớp khất thực. Khất thực xong, Đức Thế Tôn trở về trụ xứ để thọ trai.
Thọ thực xong xuôi, Đức Thế Tôn thâu y, bát, rửa chân, rồi trải tọa cụ, ngồi kiết già, chánh niệm, bất động. Lúc nầy, các Tỳ-kheo cùng đi đến chỗ Phật, cung kính đảnh lễ nơi chân Phật, đi nhiễu quanh Phật ba vòng theo phía tay phải rồi lui ra ngồi qua một bên. Khi ấy, Huệ mạng Tu-bồ-đề, ở trong đại chúng, liền từ tòa ngồi đứng dậy, bày vai bên phải, gối bên phải quỳ sát đất, hướng về Đức Phật, chấp tay cung kính bạch Phật: Hy hữu thay Đức Thế Tôn! Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đã khéo hộ niệm các Bồ-tát, khéo phó chúc các Bồ-tát”. * Luận nêu: Thân Tu-đa-la nối tiếp, Nghĩa cú ấy nay sẽ nói.
Đức Thế Tôn do đâu đã dùng oai nghi của người tịch tĩnh để an tọa? Là nhằm hiển thị, chỉ có người tịch tĩnh, đối với pháp mới có thể tỏ ngộ, mới có thể nêu bày, nên kinh viết: Khéo thâu giữ các Đại Bồ-tát bậc nhất.