Mở đầu là công cuộc “cách mạng xanh” đã giải quyết cơ bản về lương thực. Sau đó “cách mạng trắng” với phong trào sản xuất sữa và Ấn Độ tiếp tục phát triển cuộc “cách mạng nâu” phát triển chăn nuôi bò. Tại Trung Quốc Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới, nhưng nền nông nghiệp Trung Quốc không những đủ cung cấp nhu cầu trong nước mà còn là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất Thế giới. Theo Jinguguan: “Hiện nay và trong tương lai, Khuyến nông vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp Trung Quốc”.
Qua nhiều năn vận dụng những chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nông nghiệp Trung Quốc trải qua rất nhiều bước thăng trầm. Trước những năm 90 của thế kỉ XX , nông nghiệp Trung Quốc chỉ bằng mục tiêu tăng sản lượng và số lượng, các loại vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp như phân bón thuốc trừ sâu ồ ạt tung ra thị trường. Thanh niên nông thôn ra thành phố kiếm việc làm vì thu nhập từ nông nghiệp quá thấp. c 12 Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ nông nghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao.
Các chương trình khuyến nông chuyển giao giống cây trồng, lúa lai chất lượng cao, sản xuất đỗ tương xuất khẩu kết hợp cải tạo đất. Dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượng sữa được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho nông dân. Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng góp phần đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm thông qua chương trình khuyến nông quốc gia, giống mới được cung cấp cho người dân gần như cho không, hàng loạt các hoạt động tập huấn được tổ chức, các mô hình trình diễn giúp người nông dân nắm bắt những kỹ thuật mới. Nhờ những chính sách đúng đắn của nhà nước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được kết quả bất ngờ trong vài năm thực hiện.
20 năm gần đây Nhà nước Trung Quốc đã đầu tư đồng bộ cả về hệ thống tổ chức, cơ sở thiết bị nghiên cứu cho khuyến nông, nhờ vậy đời sống của khuyến nông viên được nâng cao. Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ chức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên từ trung ương tới địa phương. Hiện nay khuyến nông Trung Quốc là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều năm không ngừng củng cố (Phạm Kiều Oanh, 2006). Tại Thái Lan Ngày 20/10/1967 Chính phủ Thái Lan mới có quyết định thành lập tổ chức khuyến nông.
Tuy ra đời hơi muộn so với một số nước khác nhưng Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm tới hoạt động này. Hàng năm Chính phủ Thái Lan chi từ 120-150 triệu USD thậm chí 200 triệu USD đầu tư cho hoạt động khuyến nông. Thái Lan cho đến nay có một hệ thống khuyến nông c 13 khá mạnh. Ở Bộ nông nghiệp thủy sản có cục khuyến nông, ở cấp tỉnh có Trung tâm khuyến nông, ở cấp huyện có Trạm khuyến nông.
Trong nước Khuyến nông Việt Nam được hình thành cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Cách đây hơn 2000 năm các vua Hùng đã trực tiếp dạy dân sản xuất nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở cuộc thi để các hoàng tử, công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn độc đáo bằng nông sản tại chỗ. Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa. Vua Lê Đại Hành là ông vua đầu tiên đích thân đi cày rộng tịch điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên Hà Nam ngày nay.
Vào thời nhà Lê, đã có những chính sách phát triển nông nghiệp để động viên nông dân tích cực tham gia sản xuất. Triều vua Lê Thánh Tông (1492) mỗi xã có một trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều. Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “Khuyến nông” trong luật Hồng Đức. Từ sau cách mạng tháng 8/1945 - 1958, chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi toàn quốc “tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này”.
Từ năm 1958-1975, nông nghiệp miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động trực tiếp của mô hình hợp tác xã nông nghiệp.Từ tổ đổi công (1956) đến hợp tác xã bậc thấp(1960), đến hợp tác xã bậc cao (1968), đến hợp tác xã toàn xã (1974). Từ 1976-1988, Nông nghiệp Việt Nam thống nhất nhất thành một mối, tiềm năng và thế mạnh của hai miền Bắc - Nam được bổ sung cho nhau và cùng nhau phát triển theo một đường lối chung là hợp tác hóa nông nghiệp. Ngày 13/1/1981, chỉ thị 100CT/TW của ban bí thư trung ương Đảng về “cải c 14 tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” (gọi tắt là khoán 100). Tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế.
Và nghị quyết 10 của bộ chính trị Trung ương ĐCSVN khóa VI (5/4/1988) về quản lý đổi mới trong nông nghiệp nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Năm 1993, Cục khuyến lâm được thành lập vừa quản lý nhà nước vừa hoạt động KN. Ngày 2/3/1993, Chính phủ ra nghị định 13/CP về công tác khuyến nông. Năm 2001, Trung tâm Khuyến nông Trung ương ra đời, trực thuộc cục khuyến nông.
Năm 2003, Trung tâm Khuyến nông quốc gia được thành lập. Ngày 26/4/2005, nghị định số 56/2005NĐ-CP được ban hành về khuyến nông- khuyến ngư. Ngày 8/1/2010, Chính phủ ban hành nghị định 02/2010NĐ-CP thay thế cho Nghị định 56 nhằm đổi mới công tác khuyến nông phù hợp với thực tiễn sản xuất. Một số văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập.
- Nghị định 03/CP về công tác khuyến nông( 2/3/1993). - Nghị định số 56/2005NĐ-CP về khuyến nông khuyến ngư. - Nghị định số 01/2008NĐ-CP ngày 3/1/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh , cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của UBND cấp xã về nông nghiệp và PTNT. c 15 - Nghị định số 02/2010NĐ-CP về khuyến nông thay thế cho Nghị định 56/NĐ-CP nhằm đổi mới công tác Khuyến nông phù hợp với thực tiễn sản xuất.
- Thông tư liên tịch số 183/2010 TTLT-BTC-BNN về hướng dẫn chế độ quản lý , sử dụng kinh phí Nhà nước cấp đối với hoạt động khuyến nông - Công văn số 14CV-KN của Phòng nông nghiệp huyện Phú Bình về việc chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng vụ xuân 2016. c 16 Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 3. Khái quát về cơ sở thực tập 3. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 3.
Vị trí địa lý Đồng Liên là xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Phú Bình, cách trung tâm huyện 18km, cách thành phố Thái Nguyên 13km về phía nam. - Phía Bắc giáp với hai xã Huống Thượng và Nam Hòa của huyện Đồng Hỷ. - Phía Đông giáp xã Bàn Đạt và xã Đào Xá huyện Phú Bình. - Phía Tây giáp với phường Cam Giá và phường Hương Sơn của Thành phố Thái Nguyên.
- Phía Nam giáp với xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên. Điều kiện tự nhiên • Địa hình , địa mạo Đồng Liên có tổng diện tích là 886ha. Phía Bắc và phía Nam thì bằng phẳng nhưng giữa lòng xã thì đồi núi nên độ cao thấp của địa hình mang đặc thù của một xã bán trung du miền núi. Các xóm phía Bắc và phía Nam có cánh đồng bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có con sông bao quanh rất thuận lợi cho việc tưới tiêu vì vậy thuận lợi cho việc trồng một số loại cây hoa màu và cây ăn quả như: cây bí, dưa chuột, táo, nhãn.
Các xóm còn lại thì địa hình phức tạp, không được bằng phẳng, hệ thống ruộng đa số là ruộng bậc thang xen canh giữa các chân núi. Nhìn chung địa hình của xã thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các loại hình sản xuất và phát triển hạ tầng. c 17 • Đất đai Bảng 3.1: Diện tích sử dụng đất tự nhiên của xã Đồng Liên STT Mục đích sử dụng Diện tích (ha) Tổng diện tích 886 1 Đất sản xuất nông nghiệp 666,73 Đất trồng cây hàng năm 371,19 Đất trồng cây lâu năm 189,22 Đất nuôi trồng thủy sản 8 Đất rừng 98,32 2 Đất phi nông nghiệp 218,2 Đất ở 44,05 Đất công cộng 83,82 Đất chuyên dùng 85,04 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 5,29 3 Đất chưa sử dụng 1,07 (Nguồn: UBND xã Đồng Liên năm 2016) Qua bảng 3.1 ta thấy: Do Đồng Liên là một xã miền núi và người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên diện tích đất nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng diện tích tự nhiên của xã. • Khí hậu Đồng Liên là một xã vùng trung du, trong năm khí hậu được chia thành 4 mùa rõ rệt nên rất thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, bền vững.
- Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình hàng năm: 230C, tháng nóng nhất: 28,30C, nhiệt độ trung bình nhỏ nhất: 15,70C, nhiệt độ thấp nhất: 120C. - Chế độ mưa c 18 Tổng lượng mưa hàng năm khoảng 1.700mm, lượng mưa lớn nhất tập trung vào tháng 6: 312mm, lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 2: 8mm, lượng mưa trung bình 141,08mm/tháng. - Chế độ ẩm Độ ẩm trung bình là 82,25%, độ ẩm trung bình cao nhất là 90% vào tháng 5,độ ẩm trung bình thấp nhất 74% vào tháng 12. - Chế độ gió Gió đông nam hoạt động từ tháng 5 đến tháng 10 mang theo nhiều lượng nước gây ra mưa, cũng là những tháng có độ ẩm cao, lượng mưa lớn tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Gió mùa đông bắc hoạt động mạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió thường khô hanh làm hạn chế sinh trưởng của cây trồng, đồng thời sương muối và rét đậm kéo dài từ 21/12 đến 20/2 năm sau. • Thủy văn Có hệ thống sông Cầu chảy qua xã dài 6km và sông Đào dài 7km chạy qua các xóm: Đồng Tân, Đồng Tâm, Đồng Ao, Đồng Cão, Bo, Đá Gân, Thùng Ong, Trà Viên, Xuân Đám, Đồng Vạn. Ngoài ra trên địa bàn xã còn có hệ thống hồ, đập, suối.là nguồn cung cấp nước tưới tiêu cho xóm.