Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu hoạt động du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010" do sinh viên Đoàn Thị Kiều (ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng) thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Xuân Đính. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh tỉnh Thái Nguyên—một địa bàn trung du và miền núi Đông Bắc, cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội—đang trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng "Công nghiệp - Dịch vụ - Nông, Lâm nghiệp". Địa phương sở hữu nguồn tài nguyên phong phú với trung tâm đô thị TP. Thái Nguyên và các phụ cận tiêu biểu như hồ Núi Cốc, chùa Hang, đền Đuổm, hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà cùng hệ thống di tích cách mạng ATK Định Hóa. Tuy nhiên, trước năm 2000, hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh vẫn ở tình trạng tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn và chưa được hạch toán đầy đủ trong Niên giám thống kê địa phương.

Vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu là mặc dù bước sang giai đoạn 2000 - 2010, du lịch Thái Nguyên đã nhận được sự quan tâm đầu tư từ các cấp chính quyền và thu hút các thành phần kinh tế, nhưng hiệu quả khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Ngành du lịch địa phương còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: công tác quy hoạch đầu tư và nâng cấp các khu, điểm du lịch còn chậm; sản phẩm du lịch nghèo nàn, chất lượng dịch vụ chưa cao; hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn chỉnh; công tác tuyên truyền xúc tiến còn hạn chế; lượng khách du lịch quốc tế lưu trú chiếm tỷ trọng rất thấp (chỉ dao động quanh mức 1% - 2%).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  1. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các phương thức tổ chức hoạt động du lịch, chỉ ra những kết quả đạt được cùng các mặt bất cập, tồn tại trong hoạt động du lịch của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch địa phương trong giai đoạn tiếp theo.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Thu thập toàn diện các nguồn tư liệu, số liệu thống kê tại các cơ sở kinh doanh du lịch, cơ quan quản lý nhà nước, các báo cáo tổng kết ngành văn hóa - thể thao và du lịch địa phương.
    • Nhiệm vụ 2: Phân tích, so sánh và tổng hợp các tư liệu thực tế nhằm làm rõ thực trạng hoạt động du lịch, đánh giá nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất phương hướng phát triển.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tổ chức quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh du lịch (lưu trú, lữ hành, dịch vụ, lễ hội, xúc tiến quảng bá) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tập trung trọng điểm vào thành phố Thái Nguyên, khu du lịch hồ Núi Cốc, khu di tích lịch sử ATK Định Hóa và các huyện có tài nguyên du lịch sinh thái, nhân văn như Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000 - 2010, mốc thời gian ghi nhận sự chuyển mình của ngành du lịch địa phương từ hình thức kinh doanh sơ khai sang giai đoạn có định hướng quy hoạch và đề án phát triển cụ thể.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ liên ngành giữa Dân tộc học và Văn hóa Du lịch. Văn bản vận dụng khung định hướng chính sách từ các nghị quyết và văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về du lịch, bao gồm: Luật Du lịch; Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/06/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch; Nghị định số 13/CP về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL hướng dẫn thực hiện Nghị định 92/2007/NĐ-CP về lưu trú du lịch; Thông tư số 89/2008/TT-BVHTTDL; Chỉ thị số 146/CT-BVHTTDL; Kế hoạch số 548/KH-TCDL của Tổng cục Du lịch; Quyết định số 2901/QĐ ngày 07/11/2003 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc thành lập Ban quản lý khu du lịch Hồ Núi Cốc; và Đề án "Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2005".

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp điền dã và thu thập tư liệu: Khảo sát trực tiếp cảnh quan, di tích, cơ sở hạ tầng, khách sạn, nhà hàng tại các trung tâm du lịch của tỉnh; tham dự và quan sát các hoạt động lễ hội truyền thống cùng sự kiện thực tế như Tuần Văn hóa Du lịch tỉnh Thái Nguyên năm 2010; khai thác tư liệu lưu trữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên và các ban quản lý di tích.
  • Phương pháp thống kê, phân tích và so sánh: Thu thập chuỗi dữ liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý, phân loại số liệu theo từng giai đoạn (2001 - 2005, 2006 - 2008, 2009 - 2010) và theo thành phần kinh tế nhằm đánh giá biến động chỉ tiêu khách, doanh thu, cơ sở lưu trú và lao động.
  • Phương pháp tổng hợp và đánh giá: Khái quát hóa bức tranh hoạt động từ các chỉ số kinh tế, từ đó đối chiếu giữa tiềm năng tự nhiên - nhân văn với kết quả khai thác thực tế để xác định các mặt bất cập.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2004; Báo cáo thống kê tổng kết công tác của Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Thái Nguyên các năm 2001 - 2005; Báo cáo tổng kết Năm Du lịch Quốc gia Thái Nguyên 2007; số liệu thống kê định kỳ của Phòng Quản lý Du lịch và Phòng Nghiệp vụ Du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên năm 2009.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thái Nguyên - Mảnh đất giàu tiềm năng du lịch

Chương 1 cung cấp khảo sát toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên nhân văn và tiền đề kinh tế - xã hội phục vụ phát triển du lịch của tỉnh Thái Nguyên:

  • Đặc điểm địa lý, tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tỉnh có diện tích tự nhiên 3.541 km2, tiếp giáp 6 tỉnh/thành phố (Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang và Hà Nội); địa hình đồi núi xen kẽ ruộng thấp (núi đá vôi và đồi bát úp chiếm 2/3 diện tích); khí hậu nhiệt đới gió mùa ôn hòa (nhiệt độ trung bình 25°C, mùa khô kéo dài 7 - 8 tháng); hệ thống thủy văn chính gồm sông Cầu và sông Công. Tài nguyên rừng tự nhiên đạt 102.190 ha; diện tích chè đạt 15.000 ha (12.000 ha chè kinh doanh, sản lượng trên 70.000 tấn, đứng thứ hai cả nước sau Lâm Đồng); khoáng sản có trữ lượng than đá và than mỡ lớn thứ hai cả nước. Về hành chính và dân số: gồm 9 đơn vị hành chính (TP. Thái Nguyên, TX. Sông Công và 7 huyện: Đại Từ, Phổ Yên, Phú Bình, Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương). Dân số năm 2006 đạt 1.124.170 người (mật độ 319 người/km2), năm 2009 đạt 1.127.786 người (mật độ 325 người/km2), với 9 dân tộc cùng sinh sống: người Việt chiếm 75,38%, người Tày, người Nùng (54.628 người), người Sán Dìu (37.365 người), người Sán Chay (29.229 người - chiếm 19,84% người Sán Chay cả nước), người Dao (21.818 người), người Hmông (4.831 người), người Hoa (2.964 người) và người Ngái. Vị trí tiếp giáp Thủ đô qua Quốc lộ 3, cách sân bay Nội Bài 50 km, sở hữu KCN Gang Thép (thành lập năm 1963), KCN Sông Công, 6 trường đại học và gần 20 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tạo nguồn khách nội địa dồi dào.
  • Tiềm năng du lịch tự nhiên:
    • Hồ Núi Cốc (Đại Từ): Hồ nhân tạo chắn ngang sông Công, diện tích mặt hồ 25 km2, có 89 hòn đảo lớn nhỏ; phát triển 6 điểm vui chơi giải trí gồm sân khấu nhạc nước, huyền thoại cung, động Thế giới cổ tích, động Ba cây thông, công viên cá sấu, công viên nước.
    • Làng chè Tân Cương (TP. Thái Nguyên): Có 1.200 hộ chuyên canh với trên 400 ha, sản lượng trên 1.000 tấn búp khô/năm.
    • Hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà (Võ Nhai): Thắng cảnh hang động trên núi và suối ngầm, được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1994.
    • Thác Khuôn Tát (Định Hóa): Thác 7 tầng cao trên 20m nằm tại xã Phú Đình, được xếp hạng di tích quốc gia năm 2002.
    • Động Linh Sơn (Đồng Hỷ): Sức chứa hàng ngàn người, lưu giữ bia đá cuối đời Lê ghi dấu sự kiện ban chiếu của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan.
    • Khu khảo cổ Thần Sa (Võ Nhai): Di chỉ người tiền sử tại hang Phiềng Tung và Mái đá Ngườm có niên đại 2 - 3 vạn năm.
  • Tiềm năng du lịch nhân văn:
    • Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa: Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (khuôn viên 28.000 m2, hơn 3.000 m2 trưng bày, lưu giữ hơn 10.000 hiện vật của 54 dân tộc trong 5 phòng chuyên đề); Đền thờ Đội Cấn gắn với cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên đêm 30 rạng sáng 31/08/1917; Đền Đuổm (Phú Lương) phụng thờ danh nhân Dương Tự Minh cùng hai công chúa Diên Bình và Thiều Dung; Chùa Phủ Liễn (diện tích 3.500 m2, xây dựng đầu thế kỷ 19); Chùa Hang (Đồng Hỷ) lưu giữ bia đá thời Hồng Đức năm 1487 ("Tiên nữ Động").
    • Di tích lịch sử cách mạng: Quần thể An toàn khu (ATK) Định Hóa bao gồm Đồi Khau Tý (nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc từ 20/05 đến 10/11/1947, viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" và bài thơ "Cảnh khuya"); Nhà trưng bày ATK Định Hóa (khánh thành ngày 20/05/1997 do Thủ tướng Võ Văn Kiệt cắt băng); Lán Tỉn Keo (nơi Bác Hồ chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị đêm 06/12/1953 thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 và mở chiến dịch Điện Biên Phủ); Nhà tưởng niệm Bác Hồ (khánh thành ngày 19/05/2005 do Đảng bộ và nhân dân Hà Nội tặng với kinh phí trên 10 tỷ đồng, diện tích 16.000 m2, tượng đồng 150 kg); Di tích Nà Mòn (nơi làm việc của Tổng Bí thư Trường Chinh); Di tích cơ quan Bộ Tổng tư lệnh tại Bảo Biên (nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc giai đoạn 1949 - 1954); Di tích Làng Quặng (nơi sáp nhập thành lập Việt Nam Giải phóng quân ngày 15/05/1945); Nhà tù Chợ Chu (xây dựng kiên cố năm 1942); Di tích thành lập cơ sở Đảng đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (tháng 9/1936 tại La Bằng, Đại Từ); Địa điểm công bố ngày Thương binh - Liệt sĩ toàn quốc 27/7/1947 tại xã Hùng Sơn (Đại Từ); Rừng Khuôn Mánh (nơi thành lập Cứu quốc quân II ngày 15/09/1941 tại Võ Nhai).
    • Lễ hội, văn nghệ dân gian và ẩm thực: Các lễ hội tiêu biểu như hội Đền Đuổm (mùng 5 - 8 tháng Giêng), hội đền Giá, hội Lồng Tồng của người Tày tại Định Hóa, hội Chùa Hang Đồng Hỷ (đón hàng chục vạn lượt khách). Di sản phi vật thể gồm nghệ thuật hát Then - đàn Tính (thành lập CLB tháng 1/2007 với 8 nghệ nhân tiêu biểu như cụ Nguyễn Văn Lanh, Ma Văn Tào, Lưu Xuân Lai); múa Tắc Xình của người Sán Chay (Tức Tranh, Phú Đô); hát Soọng Cô của người Sán Dìu (xã Nam Hòa). Ẩm thực đặc sản gồm bánh chưng Bờ Đậu, trám đen, xôi nếp dẻo, lợn sữa quay, măng ngâm dấm ớt mắc mật.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010

Chương này phản ánh chi tiết hiện trạng phát triển ngành du lịch qua ba phân kỳ số liệu:

1. Giai đoạn 2000 - 2005: Trước năm 2001, năng lực đón tiếp của tỉnh chỉ dựa vào một khách sạn 5 tầng (88 buồng, 170 giường) xuống cấp và một nhà nghỉ Công đoàn quy mô nhỏ tại hồ Núi Cốc. Giai đoạn 2001 - 2005, việc thực hiện đề án phát triển du lịch đã thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ ở các chỉ tiêu kinh tế, bình quân đạt 25% - 30%/năm.

Bảng 1: Kết quả hoạt động du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2005

Chỉ tiêu theo dõi Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tổng số cơ sở lưu trú (cơ sở) 18 30 35 45 55
Tổng số buồng phòng (buồng) 500 635 850 1.100 1.250
Số phòng đủ tiêu chuẩn xếp hạng sao 50 60 100 150 250
Số lượt khách lưu trú (lượt) 161.193 232.500 310.000 376.000 510.000
- Khách quốc tế 476 672 3.740 4.500 10.000
- Khách nội địa 160.717 231.470 306.240 371.000 500.000
Số ngày khách lưu trú (ngày) 119.213 154.795 210.000 250.000 400.000
- Khách quốc tế 533 772 3.200 5.200 7.500
Số doanh nghiệp hoạt động du lịch (DN) 18 30 35 46 60
Tổng số lao động ngành du lịch (người) 800 - - - 1.200
Vốn đầu tư phát triển du lịch (tỷ đồng) 30 - - - 45
- Ngân sách Nhà nước đầu tư (tỷ đồng) 11 - - - 15

(Nguồn: Số liệu thống kê Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Thái Nguyên)

Bảng 2: Doanh thu du lịch theo thành phần kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 (Đơn vị: Tỷ đồng)

Phân loại doanh thu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tổng doanh thu 142,4 154,3 156,0 178,0 192,2
Chia theo cấp quản lý:
- Doanh nghiệp trực thuộc Trung ương 2,595 - - - -
- Doanh nghiệp trực thuộc Địa phương 139,832 154,366 156,0 178,0 192,2
Chia theo thành phần kinh tế:
- Kinh tế quốc doanh và tập thể 4,770 6,082 6,481 7,578 8,640
- Các thành phần kinh tế khác 135,062 148,284 149,591 170,422 183,560

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2004)

Giai đoạn này chứng kiến việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (Công ty CP Thương mại Du lịch Thái Nguyên, Công ty CP Khách sạn Du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc), thành lập Ban quản lý khu du lịch Hồ Núi Cốc (07/11/2003). Về đào tạo, tỉnh phối hợp với Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội và Đại học Thương mại mở 6 lớp đào tạo nghiệp vụ buồng, bàn, bar, lễ tân cho hơn 300 học viên.

2. Giai đoạn 2006 - 2008: Giai đoạn này tập trung vào tổ chức Năm Du lịch Quốc gia 2007 với chủ đề "Về thủ đô gió ngàn - chiến khu Việt Bắc" (khai mạc 27/02/2007) gắn với kỷ niệm 60 năm Bác Hồ về ATK Định Hóa (20/05/1947 - 20/05/2007) và 45 năm thành lập TP. Thái Nguyên. Tháng 5/2008, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập theo Nghị định 13/CP.

  • Đầu tư cơ sở hạ tầng: Tổng vốn đầu tư các dự án hạ tầng phục vụ Năm Du lịch Quốc gia đạt 150 tỷ đồng (giai đoạn 2006 - 2007); các doanh nghiệp huy động khoảng 100 tỷ đồng nâng cấp cơ sở vật chất. Nguồn kinh phí xã hội hóa đóng góp 4 tỷ đồng cho sự kiện năm 2007 và hơn 10 tỷ đồng tôn tạo di tích năm 2008.
  • Các chỉ số tăng trưởng: Lượng khách du lịch tăng trên 30%/năm; doanh thu xã hội tăng 20%/năm; cơ sở lưu trú tăng trên 20%/năm, đạt công suất phục vụ 3.000 lượt khách/ngày đêm; lao động du lịch tăng 15%/năm. Tỉnh mở lớp tập huấn cho gần 800 học viên (trong đó có 3 lớp dành riêng cho cộng đồng dân cư tại 5 huyện trọng điểm: Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa). Khách quốc tế chiếm xấp xỉ 2% tổng lượt khách.

3. Giai đoạn 2009 - 2010:

  • Kết quả 7 tháng đầu năm 2009: Toàn tỉnh đón 671.000 lượt khách (khách quốc tế đạt 9.061 lượt, đạt 81% so với cùng kỳ năm 2008); lượt khách lưu trú đạt 241.000 lượt (đạt 85% cùng kỳ). Tổng doanh thu xã hội ước đạt 380 tỷ đồng (tăng 16% cùng kỳ), trong đó doanh thu lữ hành và khách sạn đạt 48,02 tỷ đồng; công suất sử dụng buồng phòng đạt 65%.
  • Năng lực lưu trú năm 2009: Tỉnh có 110 cơ sở lưu trú với gần 2.000 phòng (550 phòng cao cấp). Có 48 khách sạn được thẩm định chất lượng, trong đó 46 khách sạn đạt chuẩn Tổng cục Du lịch (2 khách sạn 3 sao, 6 khách sạn 2 sao, 4 khách sạn 1 sao); có 38 trên tổng số 58 nhà nghỉ đạt chuẩn.
  • Đánh giá tồn tại: Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc bị bê tông hóa quá mức, hạ tầng phát triển tự phát, vệ sinh môi trường kém, dịch vụ giá cao; Khu ATK Định Hóa phụ thuộc vào nguồn khách về nguồn đơn thuần, doanh thu dịch vụ thấp do sản phẩm đơn điệu; Hang Phượng Hoàng - suối Mỏ Gà đầu tư phân tán, chưa tạo nguồn thu ổn định; toàn tỉnh thiếu vắng doanh nghiệp lữ hành quốc tế; nhân lực phục vụ thiếu kỹ năng chuyên nghiệp.

Chương 3: Đề án phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2015, phương hướng và một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong tương lai

Căn cứ vào mục tiêu của đề án phát triển du lịch địa phương giai đoạn 2009 - 2015, khóa luận hệ thống các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Phương hướng và mục tiêu trọng tâm: Định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng quy hoạch khu du lịch ATK liên hoàn (Thái Nguyên - Tuyên Quang - Bắc Kạn); hoàn thành quy hoạch tổng thể khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc - Tam Đảo; phát triển vùng du lịch đô thị sinh thái Lương Sơn phía Nam TP. Thái Nguyên.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Huy động nguồn vốn đa dạng ngoài ngân sách trung ương, hoàn thiện tuyến đường ĐT270 (Đán - Núi Cốc), tuyến đường đôi vào hồ Núi Cốc, đường Phú Đình - Đèo De, đường La Hiên - Cúc Đường - Thần Sa, giải quyết dứt điểm công tác giải phóng mặt bằng các dự án làng nghề tại Phú Lương, Phú Bình.
    • Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ du lịch: Khắc phục việc bê tông hóa cảnh quan tại vùng lõi Hồ Núi Cốc; đẩy mạnh khai thác du lịch văn hóa - lịch sử về nguồn tại ATK Định Hóa kết hợp văn hóa ẩm thực và dân ca các dân tộc thiểu số; mở rộng mô hình du lịch sinh thái làng nghề chè Tân Cương gắn với các tour du lịch cộng đồng.
    • Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ tỉnh đến cấp xã, phường; tăng cường mở các lớp đào tạo nghiệp vụ quản lý khách sạn, lễ tân, ngoại ngữ và kỹ năng thuyết minh viên; chuẩn hóa đội ngũ lao động trực tiếp phục vụ tại cơ sở lưu trú và đào tạo kỹ năng đón tiếp khách cho cộng đồng dân cư địa phương.
    • Giải pháp quảng bá, xúc tiến và liên kết du lịch: Hoàn thiện trang tin điện tử du lịch Thái Nguyên kết nối mạng thông tin Tổng cục Du lịch; xuất bản các ấn phẩm, bản đồ, đĩa CD song ngữ; chủ động liên kết tour tuyến liên tỉnh với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh thuộc tiểu vùng chiến khu Việt Bắc để hình thành tour du lịch khép kín kéo dài thời gian lưu trú của khách.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp tư liệu thực tế đối với việc tìm hiểu ngành du lịch tỉnh Thái Nguyên:

  • Hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên: Khóa luận khảo sát, thống kê và mô tả chi tiết hệ thống tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh, từ các thắng cảnh tự nhiên (Hồ Núi Cốc, Thác Khuôn Tát, Động Linh Sơn, Hang Phượng Hoàng) đến hệ thống di tích khảo cổ Thần Sa, các di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu thời kỳ kháng chiến chống Pháp tại ATK Định Hóa và kho tàng di sản phi vật thể của 9 dân tộc anh em.
  • Tập hợp số liệu thực chứng giai đoạn 2000 - 2009: Cung cấp bức tranh thống kê cụ thể về mức độ tăng trưởng cơ sở lưu trú (tăng từ 18 cơ sở năm 2001 lên 110 cơ sở năm 2009), số buồng phòng (từ 500 buồng lên gần 2.000 buồng), lượt khách lưu trú (từ 161.193 lượt năm 2001 lên 510.000 lượt năm 2005 và đạt 241.000 lượt chỉ trong 7 tháng đầu năm 2009), cùng tổng doanh thu xã hội (từ 142,4 tỷ đồng năm 2001 lên 380 tỷ đồng năm 2009).
  • Phân tích cơ cấu kinh tế ngành: Làm rõ thực tế dịch chuyển cơ cấu thành phần kinh tế trong kinh doanh du lịch địa phương, trong đó thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng áp đảo (chiếm 183,56 tỷ đồng trên tổng số 192,2 tỷ đồng doanh thu năm 2005).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thực tiễn: Khóa luận không dừng lại ở việc phản ánh số liệu tăng trưởng mà chỉ rõ các mặt hạn chế của ngành du lịch địa phương: sự mất cân đối giữa khách nội địa và khách quốc tế (khách quốc tế chỉ chiếm 1% - 2%); hiện tượng bê tông hóa làm suy giảm tính sinh thái tại hồ Núi Cốc; sự thiếu liên kết trong khai thác di tích lịch sử ATK dẫn đến doanh thu thấp; và sự thiếu hụt các đơn vị lữ hành quốc tế có năng lực cạnh tranh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do điều kiện tiếp cận dữ liệu tại thời điểm thực hiện (năm 2010), nguồn số liệu thống kê chi tiết của khóa luận tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2001 - 2008 và 7 tháng đầu năm 2009; số liệu tổng kết đầy đủ của cả năm 2009 và năm 2010 chưa được cập nhật trọn vẹn trong văn bản. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả, tổng hợp tư liệu hành chính và quan sát điền dã, chưa triển khai các kỹ thuật điều tra xã hội học định lượng sâu về mức độ hài lòng hoặc hành vi chi tiêu của du khách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội sau khi triển khai Đề án phát triển du lịch giai đoạn 2009 - 2015; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình liên kết chuỗi sản phẩm du lịch liên tỉnh giữa ATK Định Hóa (Thái Nguyên) với ATK Tân Trào (Tuyên Quang) và ATK Chợ Đồn (Bắc Kạn); đánh giá tác động môi trường của việc đô thị hóa đối với khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc; và khảo sát mô hình phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa trà tại vùng chè đặc sản Tân Cương.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Là nguồn tài liệu địa chí - du lịch hữu ích cho sinh viên các ngành Văn hóa Du lịch, Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học khi thực hiện các chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp về địa bàn vùng trung du và miền núi Đông Bắc.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành địa phương: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử ngành phản ánh quá trình chuyển đổi mô hình quản lý, tổ chức sự kiện Năm Du lịch Quốc gia 2007 và thực trạng cơ sở lưu trú những năm 2000 - 2009.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu tổng hợp về các di tích ATK Định Hóa (Chương 1) và hệ thống bảng số liệu thống kê thực trạng cơ sở lưu trú, buồng phòng, lượt khách, doanh thu giai đoạn 2001 - 2005 (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu thành phần kinh tế trong doanh thu du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2005 có điểm gì đặc thù?

Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2004 được trích dẫn trong Bảng 2 của khóa luận, kinh tế ngoài quốc doanh (thành phần kinh tế khác) chiếm tỷ trọng áp đảo tuyệt đối trong tổng doanh thu du lịch địa phương. Cụ thể, năm 2001 khối này đóng góp 135,062 tỷ đồng (trên tổng số 142,4 tỷ đồng) và tăng lên 183,560 tỷ đồng vào năm 2005 (trên tổng số 192,2 tỷ đồng). Ngược lại, kinh tế quốc doanh và tập thể chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, tăng từ 4,770 tỷ đồng năm 2001 lên 8,640 tỷ đồng vào năm 2005.

2. Sự kiện Năm Du lịch Quốc gia 2007 tại Thái Nguyên có chủ đề là gì và đã huy động nguồn vốn đầu tư hạ tầng ra sao?

Năm Du lịch Quốc gia 2007 được tổ chức tại Thái Nguyên có chủ đề “Về thủ đô gió ngàn - chiến khu Việt Bắc”, khai mạc ngày 27/02/2007. Theo báo cáo tổng kết được tác giả ghi nhận, tổng số vốn ngân sách đầu tư cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sự kiện trong 2 năm 2006 - 2007 là 150 tỷ đồng; các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế huy động vốn đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch khoảng 100 tỷ đồng; nguồn kinh phí xã hội hóa tài trợ đạt 4 tỷ đồng cho Năm du lịch và hơn 10 tỷ đồng cho công tác bảo tồn, tôn tạo di tích vào năm 2008.

3. Khóa luận chỉ ra những mặt tồn tại cụ thể nào tại Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc và Khu di tích ATK Định Hóa?

Tại Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc, tác giả chỉ ra tình trạng xây dựng công trình bị bê tông hóa quá mức làm mất tính chất sinh thái, cơ sở hạ tầng phát triển tự do, chất lượng dịch vụ còn yếu kém, giá cả đắt đỏ và vấn đề vệ sinh môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Tại Khu du lịch ATK Định Hóa, sản phẩm du lịch đơn điệu, chủ yếu chỉ thu hút khách về nguồn thuần túy, thiếu các dịch vụ bổ trợ nên doanh thu từ hoạt động du lịch còn rất thấp.

4. Đến giữa năm 2009, năng lực cơ sở lưu trú và xếp hạng sao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đạt quy mô như thế nào?

Theo số liệu thống kê của Phòng Quản lý Du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, tính đến tháng 7/2009, toàn tỉnh có khoảng 110 cơ sở lưu trú với gần 2.000 phòng (trong đó có khoảng 550 phòng nghỉ cao cấp). Có 48 khách sạn được thẩm định chất lượng, trong đó 46 khách sạn đạt tiêu chuẩn theo quy định của Tổng cục Du lịch gồm: 2 khách sạn 3 sao, 6 khách sạn 2 sao, 4 khách sạn 1 sao; ngoài ra có 38 trên tổng số 58 nhà nghỉ đạt chuẩn.

5. Văn bản ghi nhận những làn điệu dân ca và nghệ thuật trình diễn dân gian tiêu biểu nào của các dân tộc tại Thái Nguyên?

Khóa luận thống kê 3 loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu: Hát Then - đàn Tính của người Tày (với Câu lạc bộ thành lập tháng 1/2007 tập hợp 8 nghệ nhân); điệu múa Tắc Xình (múa Tắc xịch - múa cầu mùa mô phỏng lao động sản xuất) của người Sán Chay (nhóm Sán Chí) tại các xã Tức Tranh và Phú Đô, huyện Phú Lương; và điệu hát Soọng Cô (hát đối đáp giao duyên lưu truyền bằng chữ Hán cổ hoặc truyền miệng) của đồng bào Sán Dìu tại xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ.


Kết luận

Khóa luận "Tìm hiểu hoạt động du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010" của sinh viên Đoàn Thị Kiều là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa Du lịch được biên soạn công phu, phản ánh khách quan bức tranh chuyển dịch của ngành du lịch một tỉnh trung du - miền núi phía Bắc. Công trình đã hệ thống hóa nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn và di tích cách mạng phong phú của địa phương, đồng thời tổng hợp các chuỗi số liệu kinh tế thực chứng về cơ sở lưu trú, lượt khách và doanh thu qua các mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2009. Nghiên cứu chỉ ra những hạn chế cố hữu về tỷ lệ khách quốc tế thấp, tình trạng bê tông hóa cảnh quan sinh thái, sự đơn điệu của sản phẩm du lịch và đề xuất hệ thống giải pháp gắn với Đề án phát triển du lịch địa phương giai đoạn 2009 - 2015. Đây là tài liệu khoa học có giá trị lưu trữ và tham khảo tốt cho việc nghiên cứu lịch sử phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong thập niên đầu thế kỷ 21.