mở đầu cho một vùng đất rộng kéo dài từ Đà Nẵng cho đến mũi Cà Mau. Về địa hình, Thừa Thiên Huế là một bộ phận tận cùng phía Nam của dãy núi trung bình Trường Sơn Bắc, phát triển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đặc trưng chung của dạng địa hình này khá phức tạp, sườn phía Tây thoải, thấp dần về phía Nam, còn sườn phía Đông khá dốc, bị chia cắt mạnh thành các dãy núi trung bình, núi thấp, thung lũng, đồi gò và nối tiếp là đồng bằng duyên hải và các đới ven bờ (gồm đầm phá, cồn đụn cát chắn bờ và biển ven bờ). Trên một không gian rộng hơn, phía Bắc Thừa Thiên Huế là dãy Hoành Sơn hiểm trở, phía Nam là đèo Vân Hải hùng vĩ.
Và chính vì lẽ đó, Thừa Thiên Huế được xem là vùng rìa phía Nam của một thung lũng rộng kéo dài từ Hoành Sơn đến đèo Hải Vân. Trên đại thể ta thấy, địa hình Thừa Thiên Huế có thể chia làm hai phần: + Phần phía Tây và Phía Nam gồm các kiểu địa hình đồi núi và thung lũng, chiếm phần lớn diện tích của tỉnh (75,1%). Đồi núi tạo thành một vòng cung từ phía Tây xuống phía Nam như một bức tường đồ sộ. Các núi đều được cấu tạo bằng đá Granite, có đỉnh nhọn và sườn dốc.
Chuyển tiếp giữa núi với đồng bằng là vùng gò đồi, với những đồi gò nhấp nhô, những bậc thềm phù sa cổ, đất bị Feralít khá cằn cỗi, có nơi trơ sỏi đá. Dạng địa hình này, tập trung chủ yếu ở vùng Nam Đông, A Lưới và Phong Điền. + Phần phía Đông gồm địa hình đồng bằng duyên hải, đầm phá, cồn đụn cát chắn bờ, chiếm 24,9% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Các dạng địa hình này được tạo thành bởi phù sa sông, biển và sự bào mòn các đồi thấp nằm rải rác dọc theo bờ biển.
Nhìn chung, đồng bằng Thừa Thiên Huế nhỏ hẹp, manh mún và kém màu mỡ. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nông nghiệp của cư dân. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa vào vị trí, vai trò chi phối của hệ thống sông, đồng bằng Thừa Thiên Huế được chia ra thành ba vùng chủ yếu: đồng bằng sông Ô Lâu, đồng bằng sông Bồ, đồng bằng sông Hương và các sông suối phía Nam. Trong đó, đồng bằng sông Ô Lâu được coi là màu mỡ hơn cả.
Một kiểu địa hình đặc biệt ở Thừa Thiên Huế là hệ thống đầm phá chạy dọc bờ biển. Đầm phá ở Thừa Thiên Huế kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam khá điển hình, gồm phá Tam Giang, đầm Thanh Lam - đầm Sam, đầm Hà Trung - Thủy Tú, đầm Cầu Hai, nối với nhau thành một dải. Về phía Nam có đầm Lập An (hay đầm Lăng Cô hoặc vụng An Cư). Dãi đầm phá phía Bắc thông ra biển qua cửa Thuận An (ở phá Tam Giang) và cửa Tư Hiền (ở đầm Cầu Hai).
Riêng đầm Lập An nối với biển qua cửa lạch Lăng Cô. Theo các nhà nghiên cứu, đới ven bờ Tam Giang – Cầu Hai được hình thành vào cuối Pleistocen và hoàn hoàn thiện vào Holocen muộn [104, tr. Từ khi hình thành cho đến nay, các đới ven bờ này thường xuyên thay đổi do tác động của sự tăng lên của mực nước biển. Lúc đầu, hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rất sâu, do đó lưu lượng nước của các con sông đều đổ về cửa Tư Hiền1.
Về sau do sự đổi dòng của sông Hương, cửa Thuận An được mở (năm 1404)2 nên hệ phá Tam Giang – Cầu Hai cạn dần, lưu lượng nước về cửa Tư Hiền giảm, đó là một trong những nguyên nhân làm cho hệ Phá Tam Giang – Cầu Hai và cửa Tư Hiện mất dần vai trò của nó. Như vậy, trước thế kỷ XIV, Cửa Tư Hiền – Phá Tam Giang – Cầu Hai được xem là con đường biển quan trọng kết nối biển với các dòng sông, vào sâu trong nội địa. Ở Thừa Thiên Huế, chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều cồn cát chạy dọc ven biển. Sự hình thành các cồn cát này liên quan đến sự bồi tụ của phù sa sông biển và chịu sự tác động lớn của hiện tượng cát bay phổ biến ở vùng miền Trung.
Dạng địa hình cồn cát này thay đổi nhiều qua các thời kỳ lịch sử nhưng cũng đã là nơi định cư của con người từ rất sớm (ít nhất là từ thiên niên kỷ thứ I TCN). Rõ ràng, địa hình Thừa Thiên Huế hết sức đa dạng và phức tạp. Mức độ xen kẽ và đứt hãy giữa các kiểu địa hình rất lớn. Địa hình đồi núi chiếm số lượng lớn, đồng bằng nhỏ hẹp, kém màu mở.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự đa dạng về nơi cư trú con người trong lịch sử mà còn quy định phương thức sinh sống hay đúng hơn là hoạt động kinh tế của con người thời đó. Đó là yếu tố quan trọng, góp phần 1 Cửa Tư Hiền còn có các tên gọi khác: Ô Long, Tư Dung, Tư Khách, Vinh Hiền. 2 Cửa Thuận An còn có các tên khác: Cửa Hòa Duân, Yêu Hải Môn, Noãn Hải Môn, Nhuyễn Hải Môn, Hải Khẩu, Cửa Lấp. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào sự hình thành các di tích/các nền văn hóa trong nhiều thời đại, trong đó có văn hóa Champa.
Về khí hậu, do ảnh hưởng của vị trí địa lý, sự chi phối của địa hình,… khí hậu Thừa Thiên Huế có những điểm khá đặc trưng. Nhìn chung, khí hậu Thừa Thiên Huế mang đặc trưng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Mặt khác, do nằm ở trung đoạn của cả nước, lại bị dãy núi trung bình Bạch Mã án ngữ ở phía Nam nên khí hậu Thừa Thiên Huế mang đậm nét vùng chuyển tiếp khí hậu giữa hai miền Nam - Bắc nước ta. Khí hậu ở đây chia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) và mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 8).
Nhiệt độ trung bình năm ở Thừa Thiên Huế khoảng 25,20C, tổng nhiệt hoạt động trong năm khoảng 9. Số giờ nắng trung bình là 2. Huế là nơi có lượng mưa cao nhất nước. Lượng mưa trung bình từ 2.490mm với số ngày mưa trung bình năm từ 149 ngày đến 196 ngày, trong đó 85% lượng mưa tập trung từ tháng 9-12 [104, tr.
Tính chất mưa mùa cộng với địa hình dốc đã thường xuyên gây ra hạn hán và lũ lụt. Ở những nơi có nhiều diện tích đất cát hay đồi núi trọc, khả năng giữ nước mặt hạn chế nên thường bị thiếu nước trầm trọng. Ngược lại, những nơi thấp, trũng lại bị ngập lụt vào mùa mưa. Đây cũng là vùng chịu ảnh hưởng khá lớn của bão, tập trung vào các tháng 8, 9, 10 và gió mùa Tây Nam (gió Lào).
Những yếu tố khí hậu này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân Thừa Thiên Huế qua các thời kỳ. Nó là một trong những yếu tố góp phần hình thành bản sắc văn hóa Huế. Do địa hình phía Tây là núi, phía Đông là biển cả bao la; lại bị chia cắt mạnh mẽ, nên ở Huế có một hệ thống sông ngòi dày đặc với nhiều dòng sông lớn nhỏ cách nhau không xa, trong đó, có các dòng sông chính như sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Hương. Ngoài ra, còn có các sông nhỏ như Tả Trạch, Hữu Trạch, Phú Ốc…Hệ thống sông này đều bắt nguồn từ vùng rừng núi phía Tây, dòng chảy cứ lớn dần do hợp lưu với hệ thống suối, khe lớn nhỏ uốn lượn quanh co đổ ra biển kết hợp với các đầm phá ven biển tạo nên những cảng, cửa biển thuận lợi giao thông như cửa Tư Hiền và cửa Thuận An.
Do ảnh hưởng của chế độ mưa, nên về mùa khô các dòng sông đều cạn, mùa mưa các dòng sông lại đầy ắp nước. Những dòng sông là huyết mạch quan trọng, con đường thủy thuận lợi nối kết các vùng ở đồng bằng với vùng núi phía Tây giàu sản vật và vươn ra biển cả bao la. Không những thế, các 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dòng sông còn góp phần tạo ra những cánh đồng phù sa màu mỡ, là điều kiện quan trọng cho sự định cư làm nông nghiệp. Bờ biển ở Thừa Thiên Huế khá bằng phẳng với những dãi cồn cát chạy dài, kết hợp với hệ thống núi sót cùng đầm phá ven biển tạo nên những bến bãi, hải cảng giao thông quan trọng giữa các vùng trên địa bàn, giữa Thừa Thiên Huế với các nơi trong nước và khu vực.
Tóm lại, Thừa Thiên Huế “là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam, miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn, sông lớn giăng phía trước, núi cao giữ phía sau… Phía Đông giáp biển lại có các phá; phía Tây dựa núi, núi rừng chập chùng. Phá Tam Giang ở phía Bắc, phá Hà Trung ở phía Đông, các núi nguồn Tả Trạch vòng quanh ở phía Nam, các núi nguồn Hữu Trạch dăng dài ở phía hữu; núi sông bao quanh, ruộng nương màu mỡ; vừa giáp biển, vừa gần núi… chỗ bằng, chỗ hiểm xen nhau, thủy thổ lại lành, rất tiện cho bốn phương tụ họp…” [79, tr. Đặc điểm dân cƣ Các phát hiện khảo cổ học tiền - sơ sử trên vùng đất Thừa Thiên Huế cho thấy, ngay từ rất sớm, vùng đất này đã có con người cư trú. Bằng chứng là chúng ta đã phát hiện một bộ sưu tập hơn 30 chiếc rìu bôn đá ở vùng rừng núi A Lưới, tại các thôn La Ngà, xã Hồng Thủy; núi Mèo, xã Hồng Vân và ở các xã Bắc Sơn, Hồng Bắc, Hồng Hạ.
Những dấu vết về đồ đá và có cả đồ gốm còn được phát hiện ở Truồi (Nam Phổ Hạ, xã Lộc An), Trảng Đình (Thủy Yên, xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc); ở Phụ Ổ, Bàu Đưng (xã Hương Chữ, huyện Hương Trà) 3. Những đặc điểm về chất liệu, loại hình và kỹ thuật chế tác rìu bôn đá cũng như việc xuất hiện đồ gốm cho phép xác định niên đại của chúng vào khoảng hậu kỳ đá mới đến sơ kỳ kim khí, thuộc văn hóa Bàu Tró [59], [83], [85].