mở đầu khá ấn tượng của ba chàng họ Vũ: Vũ Đình Chí với Tôi kéo xe, Vũ Bằng với Một đêm trắng với năm bông hoa tàn, Vũ Trọng Phụng với Cạm bẫy người chấn động dư luận đã kéo theo một đội quân những nhà văn, nhà báo đến với thể phóng sự: Ngô Tất Tố, Trọng Lang, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Phi Vân…. Thoát thai từ một hiện thực chín muồi, phóng sự 1930 – 1945 tất nhiên là “người thư ký trung thành của thời đại” phản ánh thực trạng nhiều mặt của xã hội đương thời. Đó là những mảng hiện thực vốn bị thực dân bưng bít nơi các nhà lao, những tù nhân bị lưu đày nơi rừng thiêng nước độc, nhất là hiện thực đời sống sinh hoạt ở nông thôn và ở đô thị. Phóng sự về sinh hoạt đô thị chiếm số lượng khá lớn: Tôi kéo xe, Đêm sông Hương (Tam Lang); Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì (Vũ Trọng Phụng); Dao cầu thuyền tán của Ngô Tất Tố; Hà Nội lầm than, Làm tiền, Trong làng chạy (Trọng Lang); Thanh niên truỵ lạc, Từ ái tình đến hôn nhân, Ngoại o (Nguyễn Đình Lạp), Tàn đèn dầu lạc (Nguyễn Tuân), Hà Nội ban đêm ( Thạch Lam)…Trong đời sống xã hội có biết bao vấn nạn nổi cộm tại các đô thị.
Nạn cờ bạc (Cạm bẫy người của Vũ Trọng Phụng), nghề “đạo chích” (Trong làng chạy của Trọng Lang), thế giới nhơ nhớp của bọn mại dâm (Đêm sông Hương của Tam Lang…), tệ tham nhũng trong Một huyện ăn Tết của Vũ Trọng Phụng…đều được các nhà phóng sự phơi bày, lật tẩy. Bên cạnh đề tài thành thị, nông thôn là mảng đề tài thu hút các cây bút phóng sự. Tuy các tác phẩm để lại không nhiều nhưng thực sự là những tác phẩm có giá trị. Đó là Làm dân, Xôi thịt (Trọng Lang), Việc làng, Tập án cái đình (Ngô Tất Tố), Cường hào (Nguyễn Đình Lạp), Một huyện ăn Tết (Vũ Trọng Phụng), Bùn lầy nước đọng ( Hoàng Đạo), Túp lều nát (Nguyễn Trần Ai), Đồng quê của Phi Vân… Ở các phóng sự viết về nhà tù thực dân, Ngục Kontum (1938) là phóng sự có sức tố cáo lớn là xúc động lòng người.
Lê Văn Hiến – tác giả của thiên phóng sự này chính là người trong cuộc đã miêu tả tường tận các thủ đoạn độc ác của thực dân Pháp với các tù chính trị và các cuộc đấu tranh lưu huyết, tuyệt thực công khai của các chiến sỹ cách mạng. Mảng hiện thực bị thực dân che đậy này đã dược các nhà phóng sự đưa ra ánh sáng. Đó là Tết của tù đàn bà, Tù trẻ con của Nguyên Hồng, Khám lớn Sài gòn của Phan Văn Hùm, Đảo Côn Lôn của Nguyễn Đức Chính…. Đứng từ góc độ báo chí, phóng sự vừa mô tả những sự thật nhức nhối còn khuất lấp vừa khai sáng, thức tỉnh nhận thức cho công chúng đồng thời đem đến cho bạn đọc một kênh giao tiếp tiện lợi.
Đứng từ góc độ văn học, phóng sự không chỉ nhằm mục đích mưu sinh mà nhà văn còn giải toả những bức xúc cho độc giả đồng thời tích luỹ vốn sống để thai nghén cho bước sáng tạo nghệ thuật về sau. Điều đáng nói là phóng sự 1930 – 1945 đã biết chưng cất cái hiện thực ngổn ngang bằng nhãn quan văn học để có những tác phẩm gây ấn tượng, đáp ứng yêu cầu nhiều mặt mà xã hội trông đợi và vì thế phóng sự có được tầm vóc bề thế của một thời đại hoàng kim là điều hiển nhiên. Phóng sự giai đoạn 1945 - 1975 Hiện thực cuộc sống của ba mươi năm chiến tranh (1945 – 1975) không tiềm chứa những sắc thái cảm ứng thích ứng với thể phóng sự. Là một thể loại dân chủ, phóng sự có khả năng đặc biệt trong việc phanh phui mổ xẻ những thực tại nhức nhối nay đã không còn cơ hội phát triển.
Thể chế chính trị, nhiệm vụ chính trị của lịch sử thời kỳ này được phản ánh, lý giải và cắt nghĩa với những quan niệm cách thức khác nhau. Phóng sự không dễ thăng hoa nở rộ mà tạm thời lắng xuống hoặc hoá thân vào trong thể loại khác. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long từng khẳng định: “Trong hai cuộc kháng chiến thiếu vắng thể loại phóng sự vốn rất phát triển trong giai đoạn 1930 – 1945” [36, tr.183], nhà nghiên cứu Lã Nguyên cũng cùng chung nhận định: “Phóng sự – thể loại từng phát triển mạnh mẽ trước cách mạng, nay bỗng thiếu vắng trên văn đàn”[51, tr. Tất nhiên, nói thiếu vắng ở đây không có nghĩa là sự triệt tiêu, mất hút của thể loại này mà là sự thiếu vắng những tác gia tác phẩm có tầm vóc.
Vào thời khắc con người cần định hướng đúng cho tư tưởng và hành động này, phóng sự vẫn chứng tỏ được vai trò xung kích, tiên phong của nó. Phóng sự đã nhập cuộc vào hiện thực chiến tranh cách mạng bằng hai phóng sự dài Cảnh Dương chiến đấu và Thôn Lệ Sơn của Nguyễn Đình Lạp. Nguyễn Đình Lạp cũng từng viết trong tập bài giảng Muốn làm phóng sự của ông rằng: “Chúng ta có bổn phận phải chép lại, ghi chép đầy đủ, nóng hổi sự sống và chí quật cường. Thể phóng sự có thể giúp chúng ta là được nhiệm vụ ấy”.
Để phụng sự nhiệm vụ chính trị lớn lao, phóng sự đã có sắc diện riêng biệt, và đã có những đóng góp tích cực vào việc ghi lại những sự kiện đáng nhớ về một thời vàng son của dân tộc. Phóng sự viết về chiến tranh giải phóng dân tộc xuất hiện là một hình thức mới làm phong phú thêm cho thể phóng sự ở nước ta. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã mô tả lại hoạt động của phóng sự thời kỳ này: Trong những năm kháng chiến, nhiều thiên phóng sự từ mặt trận gửi về còn nóng hổi hơi lửa thời sự. Phóng sự mặt trân theo sát diễn biến của chiến dịch qua từng bước thắng lợi, từng mũi tiến quân, kịp thời thông báo những tin tức, câu chuyện và những tấm gương trong chiến đấu [13, tr.
Đến đầu những năm 50, phóng sự có một bước rẽ khác. Khi số phận dân tộc đang “ngàn cân treo sợi tóc”, phóng sự phải gọt bỏ cái tư chất phản tỉnh thực tại mạnh mẽ để hoá thân vào thể ký (bút ký và ký sự) trong định hướng một chiều rất cần phải có của thời đại lúc bấy giờ. Sự sống của phóng sự được hoá thân vào các tác phẩm ký của Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao…rồi chìm dần, rồi vắng bóng, gây một sự hụt hẫng trong đời sống văn học. Đến năm 1962, cuộc vận động thi viết bút ký, phóng sự trên tạp chí Văn Nghệ và báo Văn học đã hâm nóng lại bầu không khí bàn bạc về phóng sự, nhưng cũng không đủ sức làm cho phóng sự hồi sinh.
Phóng sự từ 1980 đến nay Phóng sự có dấu hiệu hồi sinh sau 40 năm chìm vào quên lãng kể từ phóng sự Cây cói ở Hải Tân của Trần Huy Quang. Nhưng thực sự nhập cuộc một cách mạnh dạn, thẳng thắn là sau năm 1986. Khi những tư tưởng đổi mới về văn hoá văn nghệ của Đảng đã “cởi trói” cho chiều hướng phát triển của văn học nói chung thì phóng sự xuất hiện đúng lúc và kịp thời. Phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật mà cuộc đổi mới đề ra như mở ra cánh cửa để cơn gió phóng sự ùa vào một cách mạnh mẽ.
Với tinh thần can đảm vốn có của thể loại này, phóng sự đã có đất để dụng võ. Công cuộc đổi mới không chỉ khôi phục lại địa vị xứng đáng của phóng sự trong báo chí và văn học mà còn tạo nên một cuộc bức phá ngoạn mục lần thứ hai cho phóng sự. Đó là Vua lốp của Trần Huy Quang (1987), Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc (1988), Mọi linh hồn đều được đưa tiễn (1991), Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt (1996) của Xuân Ba; Phóng sự (Tuyển 1995) của Trần Huy Quang; Hành trình tới chân ly của Trần Đình Bá (1995). Nét đặc sắc nổi bật của phóng sự giai đoạn này là sự mở rộng phạm vi đề tài trên cả tầm vĩ mô và vi mô.
Đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục được Nam Hà, Đỗ Quảng khai thác. Đó là sự tái hiện lại hai cuộc chiến bảo vệ biên cương Tây Nam và biên giới phía Bắc. Đề tài kinh tế xã hội được Hữu Thọ, Đỗ Quảng, Trần Huy Quang…phanh phui, mổ xẻ. Đó là cuộc đấu tranh chống lại thói bảo thủ trì trệ của cơ chế quan liêu, bao cấp, chống thói buôn gian bán lận, làm ăn bất chính…Đề tài an ninh chính trị cũng được khám phá qua những phóng sự về người tản cư ra nước ngoài, các lực lượng thù địch chống phá cách mạng….Phóng sự thời kỳ này đã can đảm phơi bày những tiêu cực.
Sự đa dạng về đề tài này một lần nữa minh chứng cho cái nhìn phiến diện về thể phóng sự ở giai đoạn trước. Nhìn chung hai chủ đề lớn được các cây bút phóng sự tập trung chú ý: biểu dương, ca ngợi những điển hình tiên tiến trong mọi hoạt động của xã hội và phê phán những mặt trái tiêu cực của cuộc sống như tệ nạn trì trệ quan liêu, tham nhũng, buôn lậu, đĩ điếm, sự hành hành trắng trợn của bọn xã hội đen… Bối cảnh hiện thực mới cũng làm cho phóng sự có những cách tân về hình thức. Hiếm có những phóng sự dài, thường là những phóng sự ngắn, đăng trọn trong một, hai kỳ báo, số lượng nhiều nhưng thành tựu vẫn chưa đáng kể, chỉ mới phản ánh hiện tượng mà ít khi tìm ra bản chất quy luật của cuộc sống để lý giải. Nếu phóng sự 1930 – 1945 có ranh giới giữa phóng sự văn học và phóng sự báo chí là khá rõ ràng thì ở giai đoạn này là khá mờ nhạt.
Có thể nói, thể loại phóng sự ngày càng phát huy tác dụng tích cực, góp phần đáng kể vào việc lành mạnh hoá cuộc sống, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng văn minh. Nhưng về phương diện nghệ thuật, vẫn chưa có nhiều nhà văn phóng sự có phong cách nổi bật như giai đoạn 1932-1945. Với chặng đường dài gần một thế kỷ hình thành và phát triển, phóng sự đã tạo nên những biến thái bất ngờ. Sau sự xuất hiện một cách đột khởi đầy viên mãn, phóng sự như dòng chảy ngầm bền bỉ và dai dẳng trôi qua hai cuộc chiến tranh có lúc tưởng như chìm hẳn và mất hút.
Nhưng rồi phóng sự lại phục sinh một cách mạnh mẽ, kỳ diệu trong thời kỳ lịch sử sang trang.