đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống về chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích và sự phản ánh phong tục hôn nhân của loại truyện này đến nay vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến. Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi chọn đề tài Chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam cho luận án của mình. Với đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích trên diện rộng để có cái nhìn bao quát và toàn diện. Mặt khác, chúng tôi đặt truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân trong môi trư ng văn hóa sống động mà nó đã từng tồn tại để lí giải mối quan hệ giữa truyện cổ t ch và đ i sống văn hóa đ ch thực mà truyện phản ánh.
Hi vọng, với cách tiếp cận này, chúng tôi sẽ có đóng góp mới trong việc nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam. Cơ ở lí thuyết của đề tài 1. Một số vấn đề về truyện cổ tích 1. Khái niệm truyện cổ tích và thời kì ra đời truyện cổ tích Trước khi khoa nghiên cứu văn học dân gian nước ta ra đ i, cách hiểu truyện cổ t ch (hay truyện đ i xưa) thư ng được dùng theo nghĩa rộng, để chỉ chung toàn bộ truyện kể dân gian Từ h n nửa thế kỉ nay, trên c s tiếp thu l luận và kinh nghiệm nghiên cứu truyện dân gian nước ngoài, kết hợp với hoạt động sưu tầm, nghiên cứu truyện dân gian trong nước, các nhà nghiên cứu đã phân chia kho tàng truyện kể dân gian nước ta thành năm loại ch nh: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ t ch, truyện cư i, truyện ngụ ngôn Nh vậy mà phạm vi các hiện tượng được gọi là “cổ t ch” đã được giảm bớt, khái niệm truyện cổ t ch đã được thu hẹp h n Trong giáo trình Văn học dân gian của Hoàng Tiến Tựu, tác giả lí giải: “Ở nước ta, quá trình nghiên cứu truyện cổ tích gắn khá chặt với quá trình nhận thức, khu biệt các loại truyện dân gian khác (như thần thoại, truyền thuyết, truyện cư i, truyện ngụ ngôn, giai thoại…) Trước đây (khoảng từ Cách mạng tháng Tám 1945 tr về trước), danh từ truyện cổ t ch (còn được gọi là “truyện đ i xưa”) thư ng được dùng để chỉ chung hầu như toàn bộ lĩnh vực truyện dân gian truyền miệng kể xuôi (tư ng tự như “truyện cổ dân gian” hay “truyện kể dân gian” sau này) Về sau, phạm vi của truyện cổ t ch được thu hẹp dần, song song với quá trình nhận thức các loại truyện dân gian khác và tách chúng ra khỏi cổ tích” [180, tr.
Tuy nhiên, so với bốn loại truyện còn lại thì truyện cổ t ch vẫn là bộ phận lớn nhất, phức tạp nhất Như vậy, theo cách phân chia này, khái niệm truyện cổ t ch vẫn còn rất rộng và rất khó xác định Trên c s khảo sát những tài liệu ghi chép về truyện cổ dân gian, nhà nghiên cứu của Chu Xuân Diên cho rằng: Thuật ngữ “truyện cổ t ch” được dùng Việt Nam có lẽ muộn nhất cũng là từ thế kỷ XIX. Từ đầu thế kỷ XX tr đi, thuật ngữ này đã được dùng phổ biến Thư ng thì khái niệm “truyện cổ t ch” được hiểu với nghĩa rộng, chỉ các loại truyện dân gian nói chung, do đó, không có sự phân biệt với các khái niệm “truyện đ i xưa”, “truyện cổ”, “truyện cổ dân gian” Song, những năm gần đây, trong giới folklore học ngày càng có xu hướng cố gắng phân biệt “truyện 15 cổ t ch” với truyện dân gian nói chung và với các loại truyện dân gian khác nhau nói riêng như thần thoại, truyền thuyết” [67]. Một xu hướng phổ biến trong việc xác định nội hàm khái niệm truyện cổ tích là việc các nhà nghiên cứu đã nêu lên khá nhiều đặc điểm khác nhau của truyện cổ t ch như: tính phiếm chỉ, t nh tư ng tượng và hư cấu, tính thần kì, tính có hậu, chức năng giáo huấn… Tiêu biểu cho xu hướng này phải kể đến nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, trong bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian, ông đã không đưa ra một công thức định nghĩa nào về truyện cổ t ch, nhưng những đặc điểm thể loại của truyện cổ t ch được ông phân biệt khi so sánh truyện cổ tích với thần thoại Trong khi đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi đã dựa vào định nghĩa truyện cổ tích của anh em nhà Grimm được phổ biến rộng rãi châu Âu để nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam. Trong chuyên khảo về truyện cổ tích bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã xác định ba đặc điểm của cổ t ch như sau: Một là tính chất cố sự; hai là trong sự việc được kể, đừng có yếu tố gì quá xa lạ với bản sắc dân tộc; ba là truyện cổ tích phải thể hiện tư tư ng và tính nghệ thuật, nghĩa là “nó là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh hoặc tư ng đối hoàn chỉnh.
Nó là một thể loại đã đạt đến cấp độ cao trong nghệ thuật tự sự truyền miệng, trước khi chuyển sang giai đoạn toàn thịnh của văn xuôi tự sự trong nền văn học viết” [29]. Kế thừa rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyện cổ tích của các nhà nghiên cứu, chúng tôi xác định nội hàm khái niệm truyện cổ tích gồm mấy vấn đề như sau: Thứ nhất, truyện cổ tích xuất hiện và phát triển mạnh trong xã hội phong kiến; thứ hai, về nội dung truyện cổ t ch hướng đến mối quan hệ giữa con ngư i trong gia đình và ngoài xã hội, phản ánh những mâu thuẫn của xã hội, đề cao những con ngư i nhỏ bé tầm thư ng nhất trong xã hội, ca ngợi tình cảm đạo đức của con ngư i trong t nh nhân văn cao nhất, thể hiện những m ước, khát vọng của ngư i dân; thứ ba, về nghệ thuật, truyện cổ t ch được đan dệt b i các motif, nó có kết cấu cốt truyện, yếu tố thần kì, th i gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật đặc trưng; thứ tư, về sự tiếp nhận, truyện cổ tích là loại truyện được ngư i dân yêu thích nhất so với các thể loại tự sự dân gian khác, nó ăn sâu trong tâm thức ngư i dân từ bao đ i nay. 16 Trên c s xác định nội hàm khái niệm truyện cổ tích như trên, đã gợi m cho chúng tôi về th i kì lịch sử ra đ i của thể loại này Đó là th i kì chế độ công xã nguyên thủy tan rã, xã hội có giai cấp, có nhà nước bắt đầu hình thành, nên trong lòng xã hội xuất hiện những giai cấp mới, tầng lớp mới và đi kèm với đó là những mâu thuẫn, xung đột. Sự chuyển biến của đ i sống xã hội với mô hình xã hội đ n lẻ đã dẫn đến sự xuất hiện những nạn nhân mới như: Ngư i mồ côi, ngư i đi , ngư i con riêng… kèm theo đó là những mâu thuẫn, xung đột trong lòng xã hội, trong từng gia tộc, gia đình, vì bỡ ngỡ trước những hình thái xã hội mới, lạ lẫm với những luật lệ và ràng buộc.
Họ phân vân giữa cái cũ và cái mới, cuộc đấu tranh của cái cũ trong lòng xã hội mới lại đưa đến những bi kịch mới (bi kịch hôn nhân gia đình: Tạp hôn và hôn nhân vợ một chồng, quyền thừa kế…) Khi đó, truyện cổ t ch ra đ i như một hình thức nghệ thuật nhằm lí giải các vấn đề xã hội theo xu hướng bảo vệ, bênh vực cho những nạn nhân của xã hội trước những sự thay đổi lớn lao của đ i sống mà con ngư i rất dễ bị đẩy vào những hoàn cảnh bi kịch. Khác với thần thoại, ngư i kể cổ t ch không tin vào điều được kể ra và cũng không nhằm tác động vào lòng tin của ngư i nghe Tuy nhiên, ngư i kể truyện cổ tích đã khéo léo tạo ra một thế giới không có trong thực tại nhưng lại tư ng đồng với thế giới thực tại, nhằm tạo ra một trục liên tư ng cho ngư i nghe, để họ cảm xúc trước những điều xảy ra trong cổ tích làm cho họ yêu cái tốt, ghét cái xấu và ra sức đấu tranh chống lại cái xấu. Cổ tích thật sự là những sáng tạo nghệ thuật và đó là nghệ thuật có chủ tâm. Việc xác định được nội hàm khái niệm và th i điểm ra đ i của truyện cổ tích sẽ là c s khoa học để chúng tôi thực hiện đề tài luận án này.
Nó giúp cho việc phân biệt giữa các thể loại truyện kể dân gian, đặc biệt là việc xác định này về th i điểm ra đ i sẽ giúp cho việc lí giải sự chuyển di từ lịch sử loài ngư i vào trong truyện cổ tích, góp phần lí giải được các mã văn hóa truyền thống còn lưu lại dấu vết chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam. Vấn đề phân loại truyện cổ tích Nhìn chung, giới folklore Việt Nam có ba cách phân loại truyện cổ tích. Cách thứ nhất chia cổ tích thành hai tiểu loại: truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích lịch 17 sử [95]. Cách thứ hai chia truyện cổ tích thành ba tiểu loại: truyện cổ tích thần kì (hoang đư ng), truyện cổ tích thế sự (sinh hoạt), truyện cổ tích lịch sử [29].
Cách thứ ba chia truyện cổ tích thành ba tiểu loại: truyện cổ tích loài vật (truyện cổ tích động vật), truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt (cổ tích thế sự, cổ tích thế tục, cổ tích hiện thực) [67], [178]. Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu truyện cổ t ch trong và ngoài nước đều tư ng đối thống nhất trong việc phân thể loại truyện cổ tích thành ba tiểu loại ch nh, đó là: truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt. Trong số ba tiểu loại của truyện cổ tích thì truyện cổ tích loài vật là những truyện thư ng hướng về sinh hoạt của "xã hội" loài vật và lấy loài vật làm nhân vật chính, nhất là những con vật gần gũi và có nhiều ảnh hư ng, tác dụng đối với con ngư i. Truyện cổ tích loài vật hướng đến giải thích nguồn gốc loài vật, mô tả đặc điểm và tính cách con vật trong thế giới tự nhiên một cách sinh động, từ đó gắn bản chất loài vật trong cái nhìn của loài ngư i.