Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Dương Nguyệt Vân với đề tài Chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, chuyên ngành Văn học dân gian (mã số 62 22 25 01), được hoàn thành năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Huế.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống thể loại văn học dân gian, truyện cổ tích là thể loại phản ánh đầy đủ và rõ nét các bước chuyển biến trong lịch sử hôn nhân của con người, đồng thời chuyển tải những khát vọng của người lao động về tình yêu, hôn nhân tự do, công lý và các phẩm chất đạo đức. Bên cạnh đó, truyện cổ tích chứa đựng hệ thống phong tục hôn nhân và gia đình như những dấu chỉ văn hóa đặc trưng của các cộng đồng trong một quốc gia đa dân tộc. Trong chương trình giáo dục phổ thông và đại học ngành Ngữ văn, truyện cổ tích chiếm dung lượng giảng dạy lớn. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân từ góc độ văn học dân gian kết hợp văn hóa tộc người đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phục vụ giảng dạy chuyên ngành.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Trước luận án này, các công trình folklore học tại Việt Nam mới chỉ tiếp cận chủ đề hôn nhân ở từng kiểu truyện riêng lẻ, từng motif cụ thể hoặc khảo sát trong phạm vi một tộc người nhất định, chưa có công trình nào tập hợp, hệ thống hóa và nghiên cứu toàn diện chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trên quy mô kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định hai mục đích chính:
- Trên cơ sở tư liệu đã công bố trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, tập hợp toàn bộ hệ thống truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân; nhận diện, khảo sát các dạng thức cơ bản của chủ đề này, cũng như các phong tục và thiết chế hôn nhân trong đời sống của người xưa và trong thế giới cổ tích.
- Nghiên cứu chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích trên cả phương diện nội dung phản ánh và phương thức nghệ thuật, nhằm làm phát lộ các lớp văn hóa ẩn chứa qua những đặc trưng thể loại và tiểu loại của truyện cổ tích.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, bao gồm các truyện phản ánh trực tiếp quan hệ hôn nhân và các truyện phản ánh các phong tục, tập quán liên quan đến hôn nhân.
- Phạm vi tư liệu: Khảo sát 616 văn bản truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân (thuộc hai tiểu loại: truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt) được tuyển chọn từ 77 tập truyện kể dân gian của các dân tộc Việt Nam đã xuất bản.
- Phạm vi nội dung: Luận án không nghiên cứu toàn bộ phong tục hôn nhân của các tộc người như một công trình dân tộc học độc lập, mà tập trung làm rõ phong tục hôn nhân được khúc xạ và phản ánh qua truyện cổ tích, từ đó xác định mối quan hệ giữa truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân với hiện thực đời sống văn hóa truyền thống.
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Tên đề tài |
Chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam |
| NCS / Cán bộ hướng dẫn |
Dương Nguyệt Vân / PGS. Nguyễn Thị Huế |
| Cơ sở đào tạo / Năm bảo vệ |
Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) / 2016 |
| Chuyên ngành / Mã số |
Văn học dân gian / 62 22 25 01 |
| Dung lượng tư liệu khảo sát |
616 truyện cổ tích từ 77 tập truyện kể dân gian xuất bản |
| Tiểu loại khảo sát |
Truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại lịch sử nghiên cứu chủ đề hôn nhân và phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích tại Việt Nam qua các công trình tiêu biểu:
- Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972) trong giáo trình Văn học dân gian: Nhận định các truyện Trầu Cau, Tô Thị Vọng phu, Vua Bếp phản ánh sự biến động từ chế độ quần hôn nguyên thủy sang gia đình phân biệt từng cặp vợ chồng hoặc từ mẫu hệ sang phụ hệ.
- Cao Huy Đỉnh (1974) trong Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam: Phân tích xung đột giữa hai hình thái hôn nhân gồm quần hôn (anh em lấy chung vợ) thời mẫu hệ và hôn nhân lứa đôi thời phụ hệ qua tâm trạng giằng xé của nhân vật.
- Hà Văn Thư, Võ Quang Nhẫn, Y Điêng (1975) trong lời giới thiệu cuốn Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam: Khái quát quan niệm dân gian về thời kỳ trời đất gần nhau, người trần lấy tiên và nguồn gốc các kiểu truyện người lấy vật.
- Đặng Thái Thuyên (1983) với bài viết Đề tài hôn nhân trong truyện cổ tích thần kì Mường: Chia hôn nhân thành hai dạng lớn (hôn nhân huyết tộc/vợ nhiều chồng ít xung đột nhằm lý giải vấn đề; hôn nhân trong quan hệ xung đột thực tại có phân hóa giai cấp, tranh đoạt, thử thách).
- Tăng Kim Ngân (1984) với bài viết Qua tục ăn trầu và truyện Trầu Cau của người Việt, bàn về mối quan hệ anh - em, vợ - chồng: So sánh các dị bản truyện Trầu Cau và kiểu truyện bộ ba nhân vật, khẳng định truyện phản ánh bước ngoặt chuyển từ hôn nhân cộng đồng sang hôn nhân cá thể.
- Nguyễn Thục Hiền (1992) với bài viết Truyện Trầu Cau phản ánh chế độ quần hôn?: Đưa ra quan điểm truyện phản ánh tập tục gửi rể trong chế độ gia trưởng phụ hệ phong kiến chứ không phải quần hôn hay mẫu hệ.
- Nguyễn Thị Huế (1997) với bài viết Chủ đề thử tài để kết hôn - sự biến đổi từ phong tục dân tộc học đến motif truyện cổ tích thần kì: Khảo sát quá trình chuyển hóa từ phong tục thực tế thành motif nghệ thuật thử tài kết hôn của nhân vật mang lốt xấu xí tài ba.
- Hoàng Tiến Tựu (1998) trong Bình giảng truyện dân gian: Phân tích truyện Trầu Cau và Ba ông Đầu Rau dưới góc độ phản ánh chuyển biến quan hệ hôn nhân gia đình từ mẫu hệ sang phụ hệ và khẳng định vai trò giải thích nguồn gốc tục ăn trầu.
- Đông Phong (1998) trong Về nguồn văn hoá cổ truyền Việt Nam: Xếp truyện Sự tích Đầu Rau vào nhóm chủ đề hôn nhân và gia đình, phân tích ý nghĩa biểu tượng hòa thuận gia đình.
- Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (1999) trong Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam: Khẳng định các truyện Trầu Cau, Đá Vọng phu, Sao Hôm sao Mai, Ông Đầu Rau ra đời trên cơ sở lịch sử - xã hội của giai đoạn quá độ từ mẫu hệ sang phụ hệ.
- Nguyễn Thị Kim Huế (2000) với luận văn Thạc sĩ Kiểu truyện về đề tài hôn nhân “người - rắn” trong kho tàng truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam: Khảo sát dạng thức hôn nhân giữa người và rắn.
- Kiều Thu Hoạch (2001) với bài nghiên cứu so sánh típ truyện Trầu Cau ở Việt Nam, Trung Quốc và Campuchia: Chỉ ra điểm tương đồng lớn nhất giữa các tộc người là giải thích phong tục ăn trầu, nhai trầu.
- Mai Thu Hương (2001) với luận văn Thạc sĩ Khảo sát một số nhóm truyện về đề tài tình yêu, hôn nhân trong truyện cổ tích dân tộc Thái: Khảo sát 60 truyện thuộc ba nhóm (người - vật, người - tiên, hôn nhân là vật tặng thưởng).
- Nguyễn Việt Hùng (2003) với luận văn Thạc sĩ Sự tích Vọng phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam: Phân tích motif hôn nhân anh em ruột do vô tình/nhầm lẫn để bảo vệ nhân vật.
- Chu Xuân Diên (2004) trong Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam: Phân loại các motif hôn nhân loạn luân, người mang lốt, người xấu xí có tài.
- Đặng Thị Thu Hà (2005) với luận văn Thạc sĩ khảo sát 100 bản kể về kiểu truyện Người lấy vật và sự phản ánh chủ đề phong tục trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam.
- Nguyễn Thị Thu Hoà (2005) với luận văn Thạc sĩ Kiểu truyện hôn nhân anh em ruột trong kho tàng truyện kể dân gian các dân tộc Việt Nam: Lý giải sự diễn hóa motif từ thần thoại sang cổ tích.
- Hoàng Thị Thanh Trọng (2005) với luận văn Thạc sĩ về kiểu truyện hôn nhân "giàu - nghèo" trong truyện cổ tích thần kì các dân tộc Việt Nam, xác lập hệ thống 7 motif chính.
Bên cạnh đó, luận án kế thừa khung lý thuyết folkloristics và nhân học của các học giả quốc tế như E. Meletinsky (Nhân vật truyện cổ tích thần kì - xuất xứ của hình tượng), B. Riftin và Sakharnov (Truyền thuyết và cổ tích Đungan), V.Ia. Propp (Những căn rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kì), và L.H. Morgan (Xã hội cổ đại).
Vị trí của luận án được xác lập: Là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện, có hệ thống trên quy mô 616 truyện cổ tích của các dân tộc Việt Nam, làm rõ sự tương tác đa chiều giữa sáng tác tự sự dân gian và phong tục hôn nhân truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết thể loại truyện cổ tích: Luận án tiếp thu định nghĩa của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Tiến Tựu, Chu Xuân Diên; xác định truyện cổ tích nảy sinh khi công xã nguyên thủy tan rã, xã hội phân chia giai cấp và xuất hiện chế độ phụ quyền. Thể loại được phân chia thành ba tiểu loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt (luận án tập trung vào hai tiểu loại sau).
- Lý thuyết về chủ đề tác phẩm văn học dân gian: Chủ đề phản ánh mâu thuẫn xã hội và xung đột nội bộ gia đình (quan hệ anh em, chị em, dì ghẻ - con chồng, phân chia tài sản), phản ánh số phận những con người bất hạnh (mồ côi, con riêng, em út, người xấu xí dị dạng) và giải quyết mâu thuẫn bằng quan niệm đạo đức nhân văn.
- Lý thuyết motif: Tiếp cận motif theo Từ điển Văn học và Từ điển thuật ngữ Văn học, xác định motif là đơn vị cấu thành cốt truyện bền vững, có cấu trúc 3 tầng: tầng ngôn từ, tầng hình tượng và tầng ý nghĩa hàm ẩn; mang tính biểu đạt ký hiệu và tính khuôn mẫu văn hóa.
- Khái niệm phong tục và phong tục hôn nhân: Kế thừa quan điểm của Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nhất Thanh, Trần Ngọc Thêm; vận dụng lý thuyết 5 hình thái gia đình trong tiến trình lịch sử nhân loại của L. Morgan (gia đình huyết tộc, gia đình Punaluan, gia đình đối ngẫu, gia đình phụ quyền, gia đình một vợ một chồng).
- Mối quan hệ biện chứng giữa truyện cổ tích và phong tục: Vận dụng 3 hình thức liên hệ theo luận điểm của V.Ia. Propp (liên hệ trực tiếp, chiêm nghiệm bằng phong tục, đảo nghịch phong tục) và quan điểm giải thích phong tục của Đinh Gia Khánh.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian gắn với môi trường sinh hoạt văn hóa tộc người, sử dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu cụ thể:
| STT |
Phương pháp nghiên cứu |
Mục đích và phạm vi ứng dụng trong luận án |
| 1 |
Thống kê, phân loại |
Tập hợp, phân loại 616 văn bản truyện từ 77 tập truyện kể dân gian theo các dạng thức hôn nhân và nhóm phong tục phản ánh. |
| 2 |
Phân tích, tổng hợp |
Phân tích nhân vật, cấu trúc motif, ý nghĩa văn hóa - dân tộc học của các chi tiết hôn nhân; tổng hợp thành các luận điểm lý luận. |
| 3 |
So sánh - loại hình |
So sánh các kiểu truyện, motif tương đồng giữa các tộc người không có quan hệ nguồn gốc trực tiếp nhằm tìm quy luật phát triển lịch sử - xã hội. |
| 4 |
Liên ngành |
Kết hợp tri thức văn học dân gian với dân tộc học, sử học, địa lý học, ngôn ngữ học, địa văn hóa, sử văn hóa và nhân học văn hóa. |
| 5 |
Điều tra, điền dã |
Kiểm chứng, thẩm định độ chuẩn xác của các tư liệu thư tịch tại thực địa và khảo sát dấu vết phong tục hôn nhân truyền thống còn lưu lại. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 1 trình bày chi tiết lịch sử nghiên cứu đề tài hôn nhân và phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích tại Việt Nam từ thập niên 1970 đến năm 2015. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu chính: tiếp cận thể loại chuyển hóa từ thần thoại sang cổ tích, tiếp cận dân tộc học giải mã phong tục và tiếp cận thi pháp học cấu trúc motif.
Phần cơ sở lý thuyết xác định rõ nội hàm khái niệm truyện cổ tích, nguồn gốc lịch sử gắn với sự giải thể của công xã thị tộc nguyên thủy, bản chất phản ánh mâu thuẫn xã hội của chủ đề cổ tích, cấu trúc ba tầng của motif và cơ chế phản ánh biện chứng giữa văn học truyền miệng với phong tục tập quán theo các mô hình của V.Ia. Propp và L. Morgan.
Chương 2: Nhận diện chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam
Chương 2 khảo sát diện mạo chủ đề hôn nhân qua ba nhóm dạng thức cơ bản:
Hệ thống dạng thức hôn nhân trong truyện cổ tích khảo sát
Dạng thức hôn nhân người - người mang lốt
- Lốt động vật: Chiếm số lượng lớn nhất, phản ánh môi trường sinh thái nông nghiệp lúa nước và nương rẫy.
- Lốt rắn, rồng, thuồng luồng: Kế thừa biểu tượng tôn sùng nước và lưỡng cư trong tín ngưỡng nông nghiệp. Tiêu biểu gồm các truyện: Chàng tiên Rắn, Hoàng tử Rắn, o Ngƣ o Ngheo (Cao Lan); Chàng Tơ-Rá-Trang-Lan (Cơ Ho); Hai anh em chàng Xét (Xơ Đăng - nhân vật mang lốt rồng); Mối tình Bó Bua, Câu chuyện Bẵng Tong, Sự tích Nong Kheo (Thái - nhân vật mang lốt thuồng luồng).
- Lốt cá: Phản ánh tâm lý cầu nước của cư dân vùng cao và đồng bằng qua các truyện của người H'mông như Chim Día lìa, Người vợ Cá, Ở ác gặp ác.
- Lốt hổ: Luận án thống kê được 11 truyện xuất hiện hình tượng hổ trong truyện cổ tích các dân tộc thiểu số phía Bắc (Chồng xấu chồng đẹp, Người dì ghẻ độc ác, Hai anh em mồ côi - Dao; Mẹ con nàng Hổ, Nàng Khao nàng Đăm, Ý Ưởi - Ý Noọng, Tạo Thi Thôn - Thái; Nhị và Tươi, Dì ghẻ con chồng, Người con riêng - Tày; Sự tích làm vua, Cái trống da hổ - H'mông).
- Lốt trăn: Phổ biến ở các tộc người miền núi qua các truyện Kơ ăn (Ba Na), Trăn thần, Rể Trăn (Chăm), Cô gái lấy chồng Trăn (Xơ Đăng), Cha Króa - Nay Ti Lụi (Ra Glai), Kon Tung (Gié Triêng).
- Lốt thực vật: Phản ánh tín ngưỡng vạn vật hữu linh, sùng bái cây sinh mệnh và quan niệm "cây đẻ ra người", "quả bầu mẹ".
- Lốt cây: Cây rau dền trong truyện Tạo Hôm - Nàng Hai (Thái), cây mai trong Chàng Rít (Ba Na), cây Pơ-ra-i-tao trong Hoa Chơ-re (Chăm).
- Lốt hoa, quả: Hoa chuối trong truyện Rú Roọc, Xađie (Vân Kiều), bông hoa đỏ trong Nàng hoa đỏ (Xơ Đăng), hoa Rơ-ga-pếch trong Nàng Bơra (Xơ Đăng), quả bầu trong Nàng Ka Đăm đi tìm hạnh phúc (Mạ), quả bí trong Vợ chồng Bí, Người em tài giỏi (H'mông), quả cà trong Quả cà thần (Gié Triêng).
- Lốt đồ vật: Phổ biến ở các dân tộc thiểu số, nhân vật đẹp hiện ra từ đồ vật gần gũi:
- Hiện ra từ ngà voi: Nơ đơn Con đơi (H'mông), Nàng Nga (Ê Đê), Ba anh em (Cơ Tu), Chàng K'Đời và nàng Ka BLa (Cơ Ho).
- Hiện ra từ quả trứng: Nàng Kháy, Nàng Trứng (Tày - Nùng), Lấy vợ Tiên, Chàng Pặng Mo và nàng Niểng (Mường), Chàng Con tơi và bốn người vợ (Cơ Tu).
- Hiện ra từ các vật thể khác: chiếc gối (Bờ Hơ - Gié Triêng), khúc gỗ (Bà Pôm và anh Rít - Gia Rai), sừng bò (Chàng Rít - Chăm), sừng dê trắng (A Lặc - Hrê), cục thịt (Sọ Dừa - Kinh, Chàng Bầu - Mường, Khúc thịt - Ra Glai), chiếc chai (Cô gái trong rừng và chàng trai K Khăr - Cơ Ho).
Dạng thức hôn nhân người - con vật tự nhiên
Nhân vật kết hôn với con vật tự nhiên mà không có sự trút lốt (con vật giữ nguyên bản chất súc vật). Đây là giải pháp nghệ thuật trừng phạt các nhân vật người anh, người chị tham lam, bất hiếu không nghe lời cha mẹ, tiêu biểu qua các truyện Í Pjạ (Tày), Chiếc sừng nai và mụ Hùm (Sán Dìu), truyện dân gian Pu Péo.
Chương 3: Sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân
Chương 3 phân tích sự khúc xạ của 5 phong tục hôn nhân truyền thống vào cốt truyện cổ tích:
- Phong tục ăn trầu: Khảo sát các biến thể kiểu truyện Trầu Cau trong việc phản ánh nghi lễ hôn nhân truyền thống và biểu tượng gắn kết vợ chồng qua chất liệu trầu, cau, vôi.
- Phong tục thử tài kén rể và thách cưới: Phân tích sự chuyển hóa các nghi thức thử thách của nhà gái đối với chàng rể tương lai thành các motif thử thách cam go trong truyện cổ tích thần kì (đòi sính lễ quý hiếm, thi tài lao động, thử trí thông minh).
- Phong tục hỏi vợ, dạm vợ, cướp (bắt) vợ/chồng: Phản ánh các nghi thức hôn nhân tộc người đặc thù, từ nghi lễ dạm ngõ chính thức đến tục bắt chồng/bắt vợ của các cư dân vùng cao và Tây Nguyên.
- Phong tục ở rể (gửi rể): Phản ánh chế độ cư trú sau hôn nhân của các tộc người theo chế độ mẫu hệ hoặc tập quán gửi rể làm công trả nợ cưới trong xã hội phụ hệ truyền thống.
- Phong tục kiêng kị: Khảo sát các điều cấm kỵ trong hôn nhân (kiêng kị hôn nhân nội tộc cận huyết, kiêng phạm húy, vi phạm điều răn của thần linh) và bi kịch nảy sinh khi phá vỡ kiêng kị.
Chương 4: Một số phương diện nghệ thuật của truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân
Chương 4 khảo cứu các đặc trưng thi pháp của nhóm truyện khảo sát qua 5 phương diện nghệ thuật:
- Cấu trúc cốt truyện: Xác định mô hình diễn tiến cốt truyện phổ biến gồm các chặng: Hoàn cảnh bất hạnh / khuyết thiếu -> Gặp gỡ và kết hôn qua thử thách -> Xung đột, tai họa chia cắt do thế lực đối kháng -> Vượt qua thử thách / biến hóa tái sinh -> Đoàn viên hạnh phúc và trừng phạt kẻ ác.
- Nhân vật kết hôn: Phân loại hệ thống nhân vật theo thế đối lập xã hội và đạo đức: nhân vật người mồ côi, em út, con riêng, người xấu xí mang lốt tài ba (đại diện cho cái thiện, đức hạnh) đối lập với người anh, người chị, dì ghẻ, kẻ giàu có quyền lực (đại diện cho sự tham lam, đố kỵ).
- Thời gian và không gian nghệ thuật: Thời gian phiếm chỉ ("ngày xưa", "thời xa xưa") kết hợp thời gian tuyến tính đời người; không gian đa tầng phân chia giữa cõi trần (không gian sinh hoạt buôn làng, nương rẫy) và cõi siêu nhiên (thủy phủ, thiên đình, rừng thẳm).
- Yếu tố thần kì và yếu tố trợ giúp: Phân tích vai trò của lực lượng siêu nhiên (Bụt, Tiên, vật tổ, con vật phù trợ) và bảo vật thần kì trong việc tháo gỡ bế tắc, trợ giúp nhân vật nghèo khó và hiện thực hóa ước mơ công lý.
- Motif hạt nhân của truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân: Phân tích các chuỗi motif cốt lõi như motif mang lốt - trút lốt, motif thử thách sính lễ, motif người em lấy chồng/vợ kì diệu, motif tái sinh biến hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về khoa học
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tập hợp, hệ thống hóa và khảo sát chuyên sâu 616 truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân từ 77 tập truyện kể dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Luận án phân loại khoa học các dạng thức cơ bản của chủ đề hôn nhân (người - vật, người - tiên, người - người), chỉ ra các lớp trầm tích văn hóa ẩn chứa trong phong tục hôn nhân truyền thống và lý giải mối quan hệ biện chứng giữa văn bản tự sự dân gian với đời sống văn hóa tộc người.
- Luận án làm rõ đặc trưng nghệ thuật tự sự dân gian trong việc phản ánh ước mơ hôn nhân qua cấu trúc cốt truyện, hệ thống nhân vật kết hôn, không gian - thời gian nghệ thuật, vai trò của yếu tố thần kì và hệ thống motif hạt nhân.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Luận án khẳng định tính hiệu quả của phương pháp tiếp cận truyện cổ tích vừa là sáng tác nghệ thuật ngôn từ, vừa là sản phẩm văn hóa dân gian cần soi chiếu qua tri thức dân tộc học và nhân học văn hóa.
- Về thực tiễn: Luận án chứng minh tính đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa Việt Nam thông qua các hình thức hôn nhân phong phú của các tộc người, làm nổi bật giá trị nhân văn của ước mơ về mái ấm gia đình chung thủy, hòa thuận; cung cấp nguồn tư liệu hữu ích cho nghiên cứu gia đình và xây dựng văn hóa ứng xử trong xã hội đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu phong tục hôn nhân ở các biểu hiện được phản ánh qua truyện cổ tích mà không bao quát toàn bộ hệ thống phong tục hôn nhân dân tộc học trên thực địa. Nguồn tư liệu khảo sát chủ yếu dựa trên 77 tập truyện đã công bố và một số đợt điền dã kiểm chứng, chưa thể bao quát hết toàn bộ các dị bản chưa sưu tầm của 54 dân tộc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng sưu tầm, điền dã bổ sung các bản kể truyện cổ tích hôn nhân ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa; đẩy mạnh nghiên cứu so sánh loại hình truyện cổ tích hôn nhân của các dân tộc Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Công trình là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học; cung cấp khung phân loại dạng thức hôn nhân và phương pháp tiếp cận liên ngành văn học - văn hóa tộc người.
- Đối với giáo viên Ngữ văn các cấp: Cung cấp nguồn ngữ liệu phong phú, các phân tích thi pháp và bối cảnh phong tục phục vụ trực tiếp việc giảng dạy các tác phẩm truyện cổ tích thần kì và sinh hoạt trong chương trình phổ thông và đại học.
- Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu về tập quán hôn nhân truyền thống của các dân tộc thiểu số, hỗ trợ công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và xây dựng đời sống văn hóa gia đình cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu truyện cổ tích và thuộc những tiểu loại nào?
Luận án tiến hành thống kê và khảo sát 616 văn bản truyện cổ tích về chủ đề hôn nhân, được rút ra từ 77 tập truyện kể dân gian đã xuất bản tại Việt Nam. Các truyện này thuộc hai tiểu loại chính: truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt.
2. Dạng thức "hôn nhân người - người mang lốt" được phân chia thành những loại lốt cụ thể nào?
Dạng thức này được phân chia thành ba nhóm lốt chính:
- Lốt động vật: bò sát/lưỡng cư (rắn, trăn, rồng, thuồng luồng, cóc, ếch, rùa), thú rừng (hổ, khỉ, lợn, dê, chồn, lang), cá.
- Lốt thực vật: cây (cây rau dền, cây mai, cây Pơ-ra-i-tao), hoa (hoa đỏ, hoa chuối, hoa Rơ-ga-pếch), quả (quả bầu, quả bí, quả cà).
- Lốt đồ vật: ngà voi, quả trứng, khúc gỗ, chiếc gối, sừng bò, sừng dê trắng, cục thịt, chiếc chai.
3. Có bao nhiêu truyện cổ tích xuất hiện hình tượng con hổ trong chủ đề hôn nhân và thuộc những dân tộc nào?
Luận án thống kê được 11 truyện xuất hiện hình tượng con hổ trong truyện cổ tích các dân tộc miền núi phía Bắc, bao gồm: Chồng xấu chồng đẹp, Người dì ghẻ độc ác, Hai anh em mồ côi (dân tộc Dao); Mẹ con nàng Hổ, Nàng Khao nàng Đăm, Ý Ưởi - Ý Noọng, Tạo Thi Thôn (dân tộc Thái); Nhị và Tươi, Dì ghẻ con chồng, Người con riêng (dân tộc Tày); Sự tích làm vua, Cái trống da hổ (dân tộc H'mông).
4. Luận án đã làm rõ sự phản ánh của những phong tục hôn nhân cụ thể nào?
Luận án phân tích 5 phong tục hôn nhân truyền thống cơ bản được phản ánh trong truyện cổ tích: phong tục ăn trầu; phong tục thử tài kén rể và thách cưới; phong tục hỏi vợ/dạm vợ/cướp (bắt) vợ/chồng; phong tục ở rể (gửi rể); và phong tục kiêng kị trong hôn nhân.
5. Sự khác biệt căn bản giữa "người lấy người mang lốt vật" và "người lấy con vật tự nhiên" trong luận án là gì?
- Người lấy người mang lốt vật: Nhân vật mang lốt thực chất là con người tài ba hoặc có nguồn gốc thần tiên bị đày/thử lòng; sau khi kết hôn với người em út/người nghèo khó sẽ trút lốt vĩnh viễn thành người tuấn tú, mang lại kết thúc có hậu.
- Người lấy con vật tự nhiên: Nhân vật tham gia kết hôn thường là người anh/chị tham lam, bất hiếu; con vật không trút lốt mà giữ nguyên bản chất súc vật, hôn nhân tan vỡ như một hình thức trừng phạt đạo đức của tác giả dân gian.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Dương Nguyệt Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát và có hệ thống về chủ đề hôn nhân cùng các phong tục liên quan trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu văn học dân gian với tri thức liên ngành dân tộc học và văn hóa học, tác giả đã giải mã thành công các tầng ý nghĩa biểu đạt và cấu trúc nghệ thuật của 616 văn bản truyện kể. Công trình khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc trong quan niệm hôn nhân gia đình của người lao động xưa, đồng thời làm nổi bật tính đa dạng trong thống nhất của bản sắc văn hóa Việt Nam.