Chương 1: Tổng quan về Phật giáo tài nguyên du lịch nhân văn và hệ thống chùa tại Việt Nam. Chương 2: Khai thác giá trị lịch sử văn hóa của hệ thống chùa tại Thủy Nguyên phục vụ phát triển du lịch. Chương 3: Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả giá trị văn hóa, lịch sử của hệ thống chùa Thủy Nguyên phục vụ phát triển du lịch. Ngoài ra trong khóa luận còn có các phần: Tài liệu tham khảo, Phụ lục và Mục lục.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN VÀ HỆ THỐNG CHÙA VIỆT NAM 1. Vài nét về đạo Phật ở Việt Nam Phật Giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đã được Việt hóa và có sức sống vô cùng mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của nhân dân. Đã có thời kì Phật giáo là quốc giáo và quốc học. Phật giáo đã góp phần củng cố ý thức độc lập tự chủ của dân tộc qua nhiều thời kì lịch sử ở nước ta, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.
Sự ra đời và phát triển của đạo Phật Đạo Phật ở Ấn Độ. Lịch sử Ấn Độ chia làm 3 thời kỳ: Thời kì văn hóa Ha-ra-pa, còn gọi là nền văn minh sông Ấn, vào khoảng thiên niên kỷ thứ III, II TCN. Thời kì Vệ-đà, vào khoảng thiên niên kỷ thứ II, I TCN, với sự hình thành đạo Bà-la-môn. Thời kì Ấn Độ cổ đại, khoảng giữa thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên đến thế kỉ thứ III sau công nguyên với sự xuất hiện của đạo Phật.
Sau khi hình thành đạo Bà-la-môn vào khoảng thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên ở Ấn Độ, lực lượng sản xuất phát triển nhanh, sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt. Đạo Bà-la-môn thời kì này phát triển cực thịnh cả về tôn giáo lẫn vị trí chính trị xã hội. Đạo này trở thành vũ khí quan trọng trong việc củng cố và bảo vệ chế độ phân chia đẳng cấp, còn gọi là chế độ Vác-ca. Chế độ này chia dân cư thành 4 đẳng cấp: Đẳng cấp thứ nhất gồm các tăng lữ, quý tộc.
Đẳng cấp thứ hai gồm có vua, quan cai trị. Đẳng cấp thứ ba là những người thợ thủ công và dân tự do. Đẳng cấp thứ tư là những người vô sản, nô lệ (chiếm đa số). 5 Đạo Bà-la-môn cho rằng, sự phân chia đẳng cấp trong xã hội là ý chí của Thượng đế.
Sự phân biệt đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt: không chỉ về quyền lợi kinh tế, địa vị xã hội mà cả trong quan hệ giao tiếp, sinh hoạt tôn giáo. Ba đẳng cấp trên phối hợp với nhau cùng trở thành giai cấp bóc lột và thống trị trong xã hội, trong đó nổi bật là những đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp tăng lữ (Bà-la- môn). Đẳng cấp thứ tư ở địa vị cuối cùng của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên. Chính từ sự phân chia đẳng cấp như vậy nên tầng lớp đa số trong xã hội oán ghét chế độ đẳng cấp.
thời đó, ở Ấn Độ xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng thuộc các xu hướng khác nhau, phản ánh sự bất bình của quần chúng lao động đối với chế độ đẳng cấp hà khắc và quyền uy độc đoán của đẳng cấp bóc lột, thống trị. Theo truyền thuyết cùng các sách viết về Phật giáo lưu hành ở Việt Nam và một số tư liệu của các nhà nghiên cứu Phật giáo thì: Đạo Phật được hình thành ở Ấn Độ mà người sáng lập là Thái tử Cồ Đàm Tất-đạt-đa vào khoảng thế kỉ thứ V trước công nguyên. Đức Phật là con vua Tịnh Phạm thuộc bộ tộc Thích Ca (trị vì vương quốc nhỏ là Ca-ty-la-vệ) ở phía bắc xứ Ấn Độ, gần núi Hy Mã Lạp Sơn (nay thuộc nước Neepan). Ông sinh ngày mồng 8 tháng tư âm lịch (các sách viết về lịch sử Phật Thích Ca Mâu Ni thì đức Phật sinh ngày trăng tròn, tháng Vaiskha, tức ngày 30 tháng 2 âm lịch Ấn Độ, tức ngày 15 tháng tư âm lịch Trung Hoa và Việt Nam.
Khi các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật sang Trung Hoa đã tính ngày trăng tròn đó là ngày 8 tháng tư âm lịch). Ngài sinh vào năm 563 trước công nguyên và mất khoảng năm 438 trước công nguyên, thọ 80 tuổi. Thân mẫu ngài mang họ Thích Ca, nên sau gọi là Thích Ca Mâu Ni Phật. Lúc sơ sinh người được đặt tên là Tất-đạt-đa.
Thái tử Tất-đạt-đa mới chào đời được 7 ngày thì mẹ là hoàng hậu Ma-gia tạ thế, em bà là Ma Ha Ba Xà Đề thay chị nuôi dưỡng thái tử khi khôn lớn. Thấy cảnh phân chia đẳng cấp và kì thị màu da, với nỗi thống khổ cùng cực của con người, ngài đã hết sức buồn phiền, ngài đã quyết định từ bỏ đạo Bà-la- 6 môn quyết chí bỏ nhà đi tu hành, tìm con đường giải thoát cho loài người khỏi mọi đau khổ trên đời. Cuối cùng ngài đã ngộ ra chân lý và đắc đạo thành Phật với hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật bên dưới gốc cây pipai (bồ đề). Trong suốt 49 năm sau khi thành Phật-Bụt, ngài đã đi khắp lưu vực sông Hằng và nhiều nơi khác để truyền bá tư tưởng của ngài nhằm giáo hóa chúng sinh.
Ngài không phân biệt sang hèn, chủng tộc chỉ mong giải thoát bể khổ cho mọi người. từ đó Đạo Phật đã nhanh chóng được truyền khắp các nước xung quanh Ấn Độ, rồi khắp châu Á Giáo lý của Phật giáo sâu sắc, hấp dẫn, nêu lên khả năng chế ngự dục vọng, vai trò tự giải thoát của con người, sự bình đẳng giữa con người và con người, luật lệ, lễ nghi đơn giản, không rườm rà, tốn kém… nên được đông đảo quần chúng, nhất là nhân dân lao động tin theo Hiện nay, Phật giáo có khoảng trên 300 triệu người, tập trung ở các nước Châu Á. Trong mấy thập niên gần đây, Phật giáo còn được truyền sang một số nước Châu Âu và Bắc Mĩ. Giáo lý đạo Phật Gốc là Tam tạng kinh điển.
Gồm 3 loại: Kinh-Luật-Luận. Kinh tạng là những sách ghi những lời Phật Thích Ca giảng về giáo lý. Kinh tạng gồm 5 bộ lớn: Trường bộ kinh Trung bộ kinh Tương ứng bộ kinh Tăng bộ kinh Tiểu bộ kinh Phật giáo Đại thừa gọi 5 bộ kinh nói trên bằng cái tên khác: Trường A hàm, Trung A hàm, Trung nhất A hàm, Tăng nhất A hàm, Tạp A hàm, Tiểu A hàm… 7 Luật tạng là sách ghi những giới luật do Phật chế định làm khuôn phép cho việc sinh hoạt, tu học của đệ tử, nhất là đối với những người xuất gia tu hành. Luận tạng là những sách được các vị Bồ Tát xây dựng sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, nhằm mục đích giới thiệu giáo lý Phật giáo một cách có hệ thống, phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái cũng như chống lại những đả kích, xuyên tạc khác về giáo thuyết Phật giáo.
Quan niệm của Phật giáo Quan niệm về thế giới và con người của Phật giáo có hệ thống và mang tính triết học sâu sắc. Quan niệm về thế giới: Phật giáo cho rằng, thế giới là thế giới vật chất luôn chuyển động và biến đổi vô thủy, vô chung, không có sự bắt đầu, không có sự kết thúc. Sự biến đổi của thế giới, sinh diệt của sự vật, hiện tượng không phải do phép từ bên ngoài, mà là tự nó. Sách Phật gọi là : “Tự kỉ nhân quả”.
Sự vật, hiện tượng mà con người nhận biết qua thần sắc chỉ là giả tam, không có thực tướng. Hay nói cách khác, đối với con người, thế giới khách quan đang tồn tại hư ảnh, không có thực. Phật giáo cũng đưa quan niệm về không gian. Phật giáo cho rằng thời gian là vô cùng, không gian là vô tận.
Chỉ khi xét riêng cho từng sự vật, hiện tượng Phật giáo mới nhìn thấy giới hạn thời gian và không gian, tức là có khởi đầu, có kết thúc. Quan niệm về con người: Phật giáo cho rằng con người không phải do thượng đế hay một đấng thiêng liêng nào sinh ra. Con người là sự kết hợp của ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Phần sinh lý “sắc uẩn “ là thần sắc, hình tướng được tạo bởi 4 yếu tố vật chất: Đất tạo phần cứng: xương, tóc, lục phủ, ngũ tạng.
Nước tạo máu, mật mồ hôi… 8 Hỏa tạo thân nhiệt. Gió tạo hơi thở, hơi khí trong cơ thể. Phần tâm lý gồm: “thụ uẩn”, “tưởng uẩn”, “hành uẩn”, “thức uẩn” được biểu hiện bằng: ái, ố, nộ, hỉ, lạc, ai, dục. Khi ngũ uẩn kết hợp lại thì gọi là sinh, khi ngũ uẩn tan rã thì gọi là diệt.
Do đó con người chỉ là giả tướng, không có thật. Phật giáo cho rằng khi con người chết là có linh hồn bất tử, tiếp tục đầu thai vào kiếp khác. Con đường cứu khổ: Là học thuyết cơ bản của giáo lý Phật giáo. Sách Phật quy vào “Tứ diệu đế” hay “Tứ thánh đế”: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Khổ đế: Là chân lý nói về sự khổ hạnh của đời người Phật giáo cho rằng “Đời là bể khổ”. Sinh ra, già yếu, ốm đau rồi chết đều là khổ; mong ước không đạt là khổ; phải xa lìa người mà mình thương yêu là khổ; phải sống với người xấu mà mình không ưa cũng là khổ… Tập đế: Là chân lý nói về nguyên nhân tạo ra sự khổ. Nguyên nhân của sự khổ đâu là do “thập nhị nhân duyên”: Vô minh, hành thức, danh sắc, lục nhập, xúc thụ, ái, thư, hữu, sinh, lão, tử. Diệt đế: Là chân lý để rời xa khổ hạnh.
Muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự vận động của thập nhị nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Khi nào vô minh bị diệt, trí tuệ bừng sáng, không còn tham dục thì con người mới thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Đạo đế: Là chân lý nói về con đường phải theo. Ngoài việc lấy trí tuệ diệt trừ vô minh, Phật giáo còn chủ trương tập diệt trừ tham dục.
Bát chính đạo: Tám con đường tu hành. Thẳng thắn, không làm điều sai trái. 9 Hành động chân chính. Tránh xa việc ác, làm việc thiện.
Sống bằng nghề nghiệp chân chính. Luôn nghĩ về chính pháp, gạt bỏ những suy nghĩ sai lầm. Có quan niệm chân chính về đạo, có niềm tin vào sự giải thoát. Suy nghĩ chân chính, nhất là ý nghĩa chân chính của Tứ diệu đế.
Tam học là: Giới, Định, Tuệ. Giới: Là những điều răn cấm, những quy định giúp cho con người tu hành không phạm lỗi lầm. Định: Là phương pháp giúp cho người tu hành không tán loạn thân tâm, loại trừ ý nghĩ xấu.