Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú với hệ thống 164 khu rừng đặc dụng, bao gồm 30 vườn quốc gia có tổng diện tích hơn 1.236.130 ha, cùng 3 khu bảo tồn biển trọng yếu. Mặc dù hệ thống bảo tồn đã được thiết lập quy mô, tình trạng suy thoái tài nguyên vẫn diễn ra phức tạp. Theo Báo cáo Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ, khoảng 60% các dịch vụ hệ sinh thái trên phạm vi toàn cầu đang bị suy thoái hoặc khai thác thiếu bền vững. Tại Việt Nam, hơn 80% các vườn quốc gia có cộng đồng dân cư sinh sống đan xen trong vùng đệm và vùng lõi, tạo nên áp lực sinh kế gay gắt đối với mục tiêu bảo tồn nguyên vẹn các sinh cảnh tự nhiên.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ việc các chức năng sinh thái chưa được định giá kinh tế tương xứng, dẫn tới các quyết định quản lý thường đánh đổi nguồn vốn tự nhiên lấy lợi ích tài chính ngắn hạn. Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường của tác giả Cao Hoàng Thanh Mai, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lê Đức Minh tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (2013), tập trung nghiên cứu thực trạng và cơ chế khai thác dịch vụ hệ sinh thái tại ba vườn quốc gia đại diện cho các dạng sinh cảnh đặc thù: Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà (rừng nhiệt đới núi cao), Vườn quốc gia Xuân Thủy (đất ngập nước cửa sông ven biển) và Vườn quốc gia Cát Bà (rừng trên núi đá vôi và biển).

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá hiện trạng khai thác dịch vụ hệ sinh thái, phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của phương thức quản trị dựa vào công cụ kinh tế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng (đã đạt trên 1.170 tỷ đồng vào năm 2012 trên cả nước) và cải thiện sinh kế bền vững cho các cộng đồng bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế sinh thái hiện đại:

  1. Lý thuyết Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái do David Pearce đề xuất năm 1990. Khung phân tích này chia toàn bộ giá trị của hệ sinh thái thành giá trị sử dụng trực tiếp (gỗ, lâm sản ngoài gỗ, thủy sản, du lịch), giá trị sử dụng gián tiếp (phòng hộ đầu nguồn, điều tiết lũ lụt, trữ nước, cố định các-bon), giá trị lựa chọn cho tương lai, và giá trị phi sử dụng (giá trị để lại và giá trị tồn tại nội tại).
  2. Định lý Coase và lý thuyết Chi trả dịch vụ môi trường của Sven Wunder (2005). Bản chất của cơ chế là giải quyết ngoại ứng tích cực thông qua thỏa thuận tự nguyện có sự điều tiết của Nhà nước, nơi người hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho người tham gia duy trì, bảo vệ cấu trúc hệ sinh thái.
  3. Quy trình đánh giá rủi ro và cơ hội dịch vụ hệ sinh thái gồm 5 bước của Viện Tài nguyên Thế giới (WRI, 2008), bao gồm: xác định dịch vụ, sàng lọc ưu tiên, đánh giá hiện trạng xu thế, lượng giá kinh tế và xác lập phương án cân bằng lợi ích.

Các khái niệm chuyên ngành nền tảng được vận dụng xuyên suốt gồm: Dịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem Services), Chi trả dịch vụ môi trường rừng (Payment for Forest Environment Services - PFES theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP), và Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra sơ cấp thu thập tại thực địa:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo quy hoạch lâm nghiệp, hồ sơ thống kê chi trả dịch vụ môi trường của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, cùng dữ liệu quan trắc tài nguyên giai đoạn 2006 - 2013 từ Ban Quản lý 3 Vườn quốc gia.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện khảo sát trên tổng mẫu 142 đối tượng trong khoảng thời gian từ ngày 07/10/2013 đến ngày 20/11/2013. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc:
    • Khảo sát 100 người dân tại 5 xã vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy gồm Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải (thực hiện từ 07/10/2013 đến 15/10/2013).
    • Phỏng vấn 42 hộ dân tham gia hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng thuộc chương trình PFES tại 5 địa bàn thuộc Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà gồm xã Đạ Long, xã Lát (thôn Đankia), xã Đa Sar, xã Đạ Chais và thị trấn Lạc Dương.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phân tích định tính kết hợp kỹ thuật ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) được lựa chọn nhằm mô tả chi tiết các mắt xích quản trị phức tạp, chỉ ra nguyên nhân xung đột lợi ích giữa các bên liên quan và định hướng chính sách thực thi phù hợp với năng lực địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Quy mô giá trị kinh tế của hệ sinh thái: Tại Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, tổng giá trị kinh tế từ các dịch vụ hệ sinh thái ước tính đạt 25.747 tỷ đồng (tương đương 1.287 triệu USD), đạt mức trung bình khoảng 367.381 USD/ha/năm. Trong cơ cấu giá trị, nhóm giá trị sử dụng gián tiếp (chống xói mòn, bảo vệ đất và điều tiết nguồn nước đầu nguồn) chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 46,7%, giá trị phi sử dụng chiếm 25,0%, trong khi giá trị sử dụng trực tiếp chỉ chiếm 22,18%.
  2. Tác động chuyển đổi sinh kế từ cơ chế PFES: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP tại Vườn quốc gia Bidoup đã tạo nguồn tài chính bền vững để giao khoán bảo vệ 39.366 ha rừng cho 1.150 hộ gia đình, ưu tiên các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa K'Ho, Churu và Cil. Nguồn thu này đã giảm áp lực phá rừng làm nương rẫy và trồng cà phê tại khu vực có tỷ lệ hộ nghèo vượt mức 29% và 87% thu nhập phụ thuộc vào nông nghiệp.
  3. Sự hình thành thị trường dịch vụ môi trường rừng: Trên quy mô toàn quốc tính đến hết năm 2012, các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã ký kết thành công 247 hợp đồng ủy thác chi trả (trong đó thủy điện chiếm 65,2% với 161 hợp đồng, nước sạch chiếm 20,2% với 50 hợp đồng, và du lịch chiếm 14,6% với 36 hợp đồng), huy động được 1.170 tỷ đồng tiền dịch vụ, tương đương tổng vốn ngân sách Trung ương phân bổ cho toàn ngành bảo vệ rừng cùng thời kỳ.
  4. Khoảng trống thể chế tại các hệ sinh thái đất ngập nước và biển: Tại Vườn quốc gia Xuân Thủy và Cát Bà, việc khai thác tài nguyên thủy hải sản, bãi giống tự nhiên và dịch vụ du lịch sinh thái diễn ra với cường độ cao nhưng chưa có cơ chế thu phí dịch vụ môi trường rõ ràng, khiến nguồn thu tái đầu tư cho công tác bảo tồn lâm phần ngập mặn và rạn san hô bị thiếu hụt nghiêm trọng.

Thảo luận kết quả

Sự tương phản rõ rệt giữa mô hình PFES trên cạn tại Bidoup và tình hình khai thác tự do tại Xuân Thủy và Cát Bà bắt nguồn từ việc xác định chủ thể thụ hưởng dịch vụ. Tại Bidoup, đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ chức năng điều tiết nước đầu nguồn là các nhà máy thủy điện Đa Nhim, Đại Ninh (nộp 20 đồng/kWh điện thương phẩm) và các công ty cấp nước (nộp 40 đồng/m3 nước sạch). Mối quan hệ kinh tế được định chế hóa rõ ràng giúp dòng tiền vận hành trơn tru từ người dùng cuối đến cộng đồng nhận khoán giữ rừng.

Trong báo cáo phân tích, các tập dữ liệu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu phân bổ của Tổng giá trị kinh tế (với lát cắt bảo vệ đất chiếm gần nửa tổng giá trị), kết hợp bảng biểu tổng hợp 247 hợp đồng ủy thác trên 6 vùng kinh tế và ma trận SWOT chi tiết.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, mô hình chi trả dịch vụ hệ sinh thái rừng tại Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với đề án bảo vệ lưu vực sông Segara trên đảo Lombok (Indonesia) do WWF triển khai (thu 0,60 USD/hộ/tháng) và chương trình bảo tồn rừng tại Costa Rica (thu hơn 80 triệu USD cho 300.000 ha rừng). Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng chỉ khi giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái được thương mại hóa một cách minh bạch, bài toán dung hòa giữa xóa đói giảm nghèo và bảo tồn đa dạng sinh học mới có lời giải bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước và biển: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện khung pháp lý thí điểm thu phí dịch vụ bãi đẻ, nguồn giống thủy sản và dịch vụ bảo vệ bờ biển tại Vườn quốc gia Xuân Thủy và Cát Bà, áp dụng mức trích nộp từ 1,5% đến 2,0% doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và nuôi trồng thủy sản quy mô lớn trước năm 2015.
  2. Tăng cường mức chi trả và mở rộng diện tích giao khoán bảo vệ rừng: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Ban Quản lý Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà xem xét điều chỉnh tăng đơn giá chi trả giao khoán thêm tối thiểu 20% trong giai đoạn 2014 - 2016, mở rộng diện tích khoán từ 39.366 ha lên 50.000 ha, bảo đảm 100% số hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại 5 xã vùng đệm được tiếp cận nguồn thu nhập từ rừng.
  3. Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số và bản đồ GIS phục vụ giám sát minh bạch: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tại các địa phương triển khai ứng dụng công nghệ thông tin địa lý (GIS) và viễn thám để số hóa toàn bộ ranh giới các lưu vực cung ứng dịch vụ, kiểm tra chất lượng rừng nhận khoán định kỳ, đồng thời khống chế chi phí quản lý vận hành của bộ máy quỹ dưới 10% tổng nguồn thu trong vòng 12 tháng.
  4. Phát triển mô hình du lịch sinh thái gắn kết chia sẻ lợi ích cộng đồng: Ban Quản lý các vườn quốc gia liên kết chặt chẽ với các công ty du lịch để xây dựng các tour tuyến trải nghiệm văn hóa bản địa (như văn hóa cồng chiêng của người Lạch tại Bidoup, trải nghiệm quan sát chim di cư tại Xuân Thủy), cam kết trích tối thiểu 30% doanh thu vé tham quan để tái đầu tư vào quỹ phát triển cơ sở hạ tầng thôn bản vùng đệm trước năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban Giám đốc và cán bộ chuyên trách tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên: Tài liệu cung cấp quy trình mẫu về đánh giá dịch vụ hệ sinh thái, phương pháp thiết lập hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng với người dân bản địa và cách thức đa dạng hóa nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước.
  2. Các nhà hoạch định chính sách thuộc ngành lâm nghiệp, tài nguyên và môi trường: Nguồn số liệu thực nghiệm phong phú về 247 hợp đồng ủy thác và kết quả lượng giá kinh tế giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thêm luận cứ để sửa đổi, bổ sung các chính sách về dịch vụ môi trường sau giai đoạn thí điểm Nghị định 99/2010/NĐ-CP.
  3. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế sinh thái: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc áp dụng phương pháp Tổng giá trị kinh tế (TEV), kỹ thuật điều tra bảng hỏi xã hội học nông thôn và mô hình kinh tế tài nguyên ứng dụng.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Cung cấp thông tin thực địa chi tiết về bối cảnh văn hóa - xã hội vùng đệm phục vụ cho việc thiết kế các dự án viện trợ bảo tồn đa dạng sinh học, giảm nghèo và các chương trình REDD+ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Dịch vụ hệ sinh thái được phân loại như thế nào trong nghiên cứu? Dịch vụ hệ sinh thái gồm 4 nhóm chính: Dịch vụ cung cấp (nước sạch, gỗ, lâm sản, thủy sản); Dịch vụ điều tiết (phòng hộ đầu nguồn, kiểm soát lũ, chống xói mòn đất, lưu trữ các-bon); Dịch vụ văn hóa (du lịch sinh thái, thẩm mỹ, nghiên cứu khoa học, giá trị tâm linh); và Dịch vụ hỗ trợ (chu trình dinh dưỡng, kiến tạo đất).

  2. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) tại Việt Nam vận hành theo quy trình nào? Người sử dụng dịch vụ (như nhà máy thủy điện trả 20 đồng/kWh, nhà máy nước trả 40 đồng/m3) nộp tiền ủy thác vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Sau khi trừ chi phí quản lý hợp lý, Quỹ chuyển kinh phí trực tiếp hoặc gián tiếp về Ban Quản lý Vườn quốc gia để chi trả cho các hộ dân ký hợp đồng nhận khoán tuần tra, bảo vệ diện tích rừng thực tế.

  3. Tại sao giá trị sử dụng gián tiếp lại chiếm tỷ trọng cao nhất tại Vườn quốc gia Bidoup? Theo kết quả lượng giá kinh tế, giá trị bảo vệ đất, phòng hộ đầu nguồn và chống xói mòn rửa trôi tại Bidoup chiếm tới 46,7% tổng giá trị (ước tính hàng nghìn tỷ đồng) vì Vườn nằm ở vị trí đầu nguồn của các hệ thống sông huyết mạch như sông Đa Nhim, sông Đồng Nai và sông Đắk Krông Knô, quyết định trực tiếp đến an ninh nguồn nước và hoạt động thủy điện của toàn vùng hạ du.

  4. Những khó khăn chính khi triển khai chi trả dịch vụ sinh thái tại Vườn quốc gia Xuân Thủy là gì? Vườn quốc gia Xuân Thủy là hệ sinh thái đất ngập nước ven biển với hoạt động khai thác thủy sản mang tính phân tán cao của hàng nghìn hộ dân. Hiện tại chưa có quy định pháp lý cụ thể về mức thu phí dịch vụ duy trì bãi đẻ tự nhiên và chuỗi tiêu thụ thủy sản chưa được gắn kết chặt chẽ với trách nhiệm tài chính tái đầu tư bảo vệ rừng ngập mặn.

  5. Luận văn đề xuất giải pháp cốt lõi nào để nâng cao đời sống cho người dân vùng đệm? Giải pháp then chốt là lồng ghép chính sách giao khoán rừng hưởng tiền PFES với đào tạo nghề nông lâm kết hợp, phát triển các sản phẩm đặc trưng địa phương và xây dựng mô hình du lịch sinh thái cộng đồng có sự tham gia của người dân, bảo đảm chuyển đổi thành công từ phương thức khai thác tận diệt sang đồng quản lý bảo tồn tài nguyên.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết và thực tiễn về lượng giá dịch vụ hệ sinh thái và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường tại ba vườn quốc gia tiêu biểu của Việt Nam.
  • Lượng hóa thành công tổng giá trị kinh tế của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đạt 25.747 tỷ đồng, trong đó giá trị phòng hộ đầu nguồn và điều tiết nước chiếm tỷ trọng vượt trội 46,7%.
  • Chứng minh tính ưu việt của chính sách PFES qua nguồn thu 1.170 tỷ đồng trên toàn quốc năm 2012, hỗ trợ hiệu quả sinh kế cho 1.150 hộ nhận khoán tại Bidoup.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược nhằm mở rộng chính sách chi trả sang hệ sinh thái đất ngập nước, ứng dụng bản đồ số GIS trong giám sát và đẩy mạnh du lịch cộng đồng.
  • Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị; các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp dữ liệu công trình để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bền vững.