Đặt vấn đề: Sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet và Intranet đã sinh ra một khối lƣợng khổng lồ các dữ liệu dạng siêu văn bản ( dữ liệu Web). Cùng với sự thay đổi và phát triển hàng ngày hàng giờ về nội dung cũng nhƣ số lƣợng các trang Web trên Internet thì vấn đề tìm kiếm thông tin đối với ngƣời sử dụng lại ngày càng khó khăn. Có thể nói trang Web nhƣ là cuốn từ điển bách khoa toàn thƣ. Thông tin trên các trang Web đa dạng về mặt nội dung cũng nhƣ hình thức, có thể nói Internet nhƣ một xã hội ảo, nó bao gồm các thông tin về mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội đƣợc trình bày dƣới dạng văn bản, hình ảnh , âm thanh,….Tuy nhiên cùng với sự đa dạng và số lƣợng lớn thông tin nhƣ vậy đã nảy sinh vấn đề quá tải thông tin.
Ngƣời ta không thể tự tìm kiếm địa chỉ trang Web chứa thông tin mà mình cần do vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để lấy đƣợc thông tin mà mình cần trong khối lƣợng thông tin khổng lồ đó. Do vậy ngƣời ta đã ứng dụng khai phá dữ liệu để lấy tin tự động. Nguồn gốc và mục đích XML (Extensible Markup Language) tức là ngôn ngữ đánh dấu mở rộng ra đời vào tháng 2/1998, do W3C đề xuất. XML là tập con của SGML (Standardized Generalized Makup Language).
XML đƣợc thiết kế để chuyển tải và lƣu trữ dữ liệu. Mục đích chính của XML là đơn giản hoá việc chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống khác nhau, đặc biệt là các hệ thống đƣợc kết nối Internet. Đặc điểm XML dùng văn bản (text) để mô tả thông tin. XML không phụ thuộc vào ứng dụng, phần mềm và phần cứng.
Tìm hiểu bài toán khai phá dữ liệu văn bản XML có khả năng mô tả nhiều loại dữ liệu khác nhau. XML không định nghĩa trƣớc thẻ (tag). Thẻ (tag) do ngƣời dùng tự định nghĩa. Cấu trúc của XML Một tài liệu XML đƣợc lƣu trữ và tổ chức nhƣ một cây với một phần tử gốc(root) và các phần tử con (nhƣ là nhánh cây, lá cây).
Ví dụ: <?xml version="1.0" encoding="ISO-8859-1"?> <note> <to>Nam</to> <from>Ba</from> <heading>Nhac nho</heading> <body>Dung quen buoi hen vao cuoi tuan!</body> </note> Dòng đầu tiên là khai báo XML, đây là dòng không bắt buộc. Dòng này với nhiệm vụ khai báo phiên bản XML đang sử dụng và còn có thể chứa thêm thông tin về mã hoá ký tự và các phụ thuộc ngoài. Dòng tiếp theo là đặc tả phần tử gốc (root element) của tài liệu. Bốn dòng tiếp theo là các phần tử con (child element) của tài liệu (to, from, heading, body).
Và dòng cuối cùng là kết thúc của phần tử gốc. Tóm lại, ta có thể khái quát nhƣ sau: Mỗi tài liệu XML đều xuất phát từ phần tử gốc, và mỗi phần tử phải có hai thẻ: mở “<. Các phần tử có thể có nội dung và thuộc tính, giống nhƣ trong HTML. Giữa thẻ mở và thẻ đóng là nội dung của phần tử.
Các phần tử có thể lồng nhau. Trong thẻ mở có thể chứa hoặc không chứa thuộc tính của phần tử <root> <child> <subchild>.</subchild> </child> </root> Ví dụ: <bookstore> <book category="COOKING">. Tìm hiểu bài toán khai phá dữ liệu văn bản <title lang="vi">Sach nau an kieu Chau A</title> <author>Bui Thi May</author> <year>2009</year> <price>30.00</price> </book> <book category="CHILDREN"> <title lang="en">Harry Potter</title> <author>J K. Rowling</author> <year>2009</year> <price>29.99</price> </book> <book category="WEB"> <title lang="vi">Tim hieu ve XML</title> <author>Duong Quang Thien</author> <year>2009</year> <price>39.95</price> </book> </bookstore> Tất cả các phần tử <book> đều đƣợc chứa trong <bookstore>.
Mỗi phần tử <book> lại có bốn phần tử con <title>, <author>, <year>, <price>. Ứng dụng của XML Do XML dễ hiểu, mang tính không phụ thuộc vào ứng dụng, phần mềm và phần cứng, dễ dàng chia sẻ,… nên nó ngày càng đƣợc ứng dụng rộng rãi. Thứ nhất, nó đƣợc ứng dụng trong Web Services với vai trò là cầu nối trung gian cho việc trao đổi dữ liệu giữa những Web Services. Thứ hai, nó đƣợc ứng dụng trong mô hình ADO.NET của Microsoft với vai trò lƣu trữ và chuyển dữ liệu.
Thứ ba, nó đƣợc ứng dụng trong công nghệ OpenSearch. Khi ngƣời dùng nhập từ khoá tìm kiếm thì kết quả trả về cho ngƣời dùng dƣới dạng RSS hoặc Atom (là một định dạng tập tin dựa trên chuẩn XML). Và một ứng dụng mang tầm nhìn tƣơng lai hơn nữa đó là Semantic Web. “The Semantic Web = a Web with a meaning” Semantic Web đƣợc hiểu và dịch ra tiếng việt là web ngữ nghĩa.
Semantic Web là web dữ liệu. Có rất nhiều dữ liệu mà chúng ta sử dụng hàng ngày, nhƣng nó không là một phần, một bộ phận của web. Chúng ta có. Tìm hiểu bài toán khai phá dữ liệu văn bản thể xem thông tin tài khoản ngân hàng, xem ảnh, xem e-mail, nghe nhạc trên web.
Nhƣng chúng ta có thể vừa xem ảnh vừa xem lịch vừa xem thông tin về tài khoản ngân hàng trên cùng một website đƣợc không? Tại sao không? Bởi vì chúng ta không có web dữ liệu. Bởi vì dữ liệu do những ứng dụng lƣu trữ và mỗi ứng dụng giữ nó cho riêng chúng. Nói đến Semantic Web là nói đến hai vấn đề sau: Là về những khuôn thức phổ biến(common formats) cho việc tích hợp, kết hợp cơ sở dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Dữ liệu được chia sẻ, được sử dụng lại ở những ứng dụng khác nhau.
Dữ liệu quan hệ với đối tƣợng thực (real world objects) nhƣ thế nào. Semantic Web là web mà có thể đặc tả các thông tin theo cách mà máy tính có thể hiểu được. Semantic Web không phải là links giữa những trang web. Mà nó đặc tả những mối quan hệ giữa các sự vật, sự việc( nhƣ A là bộ phận của B, Y là thành viên của Z), thuộc tính của các sự vật, sự việc(nhƣ cân nặng, chiều cao).
“If HTML and web made all the online document look like one huge book, RDF, schema, and inference languages make all data in the world look like one huge database”. Tim Berners-Lee, Weaving the Web, 1999. “Nếu HTML và web làm cho tài liệu giống như một cuốn sách, thì RDF, lược đồ, và những ngôn ngữ suy luận làm cho tất cả dữ liệu trên toàn thế giới như một cơ sở dữ liệu khổng lồ”. Một ứng dụng phổ biến về Semantic Web hiện nay là ngôn ngữ RSS (một định dạng tập tin dựa trên chuẩn XML).
Sau đây ta sẽ tìm hiểu RSS là gì? 2. Tìm hiểu về RSS 2. Tổng quan về RSS RSS là tên viết tắt của từ Really Simple Syndication( tức là nguồn cung cấp thông tin cực kỳ đơn giản). Tìm hiểu bài toán khai phá dữ liệu văn bản RSS là công nghệ khai thác và cung cấp thông tin tuỳ theo thị hiếu và mức độ quan tâm của ngƣời dùng.
Thay vì phải dành thời gian để tìm đọc các tin mới trên những website, thì với phần mềm đọc tin RSS, bạn chỉ cần lựa chọn tin cần đọc trong danh sách tin mới nhất đƣợc cập nhật liên tục từ nhiều website có tích hợp RSS. Sử dụng RSS, các nhà cung cấp nội dung web có thể dễ dàng tạo và phổ biến các thông tin nhƣ tiêu đề tin, tóm tắt, hình ảnh và link liên kết tới trang web chứa nội dung đầy đủ. Hiện nay, công nghệ RSS đang ngày dần phổ biến. Đứng riêng một mình thì RSS gần nhƣ vô dụng, mà nó phải cần một trình duyệt có hỗ trợ RSS, hoặc một chƣơng trình chuyên nghiệp để đọc tin RSS từ các trang web có RSS.
Hiện nay chỉ có một vài trình duyệt đời mới nhƣ Firefox, Opera,… có hỗ trợ đọc tin RSS, còn Internet Explorer 6 của Microsoft hoàn toàn không có chức năng này, chỉ có Internet Explorer 7 mới đƣợc tích hợp. Khi truy cập vào các trang web có hỗ trợ RSS thì tất cả những trình duyệt có công nghệ RSS đều tự động đƣa ra thông báo rằng trang web đang truy cập là dạng trang có RSS bằng một biểu tƣợng màu vàng cam có 3 chấm ở giữa. Khi nhấn chuột vào biểu tƣợng này thì trình duyệt sẽ tự động ghi vào nội dung tin tức vừa cập nhật mới nhất. Phiên bản RSS đầu tiên ra đời vào năm 1997 do Dave Winer ở UserLand thiết kế với tên gọi là scriptingNews.
Và cho đến bây giờ phiên bản đang đƣợc dùng phổ biến đó là RSS 2. Sau đây là cấu trúc cú pháp chuẩn của RSS 2. Lịch sử ra đời RSS RDF (Resource Description Framework) Site Summary, phiên bản đầu tiên của RSS đƣợc tạo bởi Dan Libby của Netscape vào tháng 3 năm 1999 dùng cho cổng điện tử My Netscape. Phiên bản này trở thành RSS 0.
Tháng 7 năm 1999, Libby đƣa ra bản phác thảo đầu tiên đặt tên là RSS 0. Từ đó, Libby đề xuất ra định dạng tƣơng tự RSS 1. Tìm hiểu bài toán khai phá dữ liệu văn bản Cùng thời điểm đó Winer đƣa ra phiên bản sửa đổi của RSS 0.91 cho website Userland. Tháng 12 năm 2000, nhóm RSS-DEV tiếp tục đƣa ra RSS 1.0 dựa trên bản phác thảo góp ý sửa đổi cho bản đặc tả kỹ thuật đƣa ra bởi Tristan Louis.
Giống với RSS 0.9 bản này dựa vào đặc tả kỹ thuật của RDF, nhƣng có tính khả mở hơn, với nhiều mục bắt nguồn từ các từ vựng metadata chuẩn nhƣ Dublin Core. Mƣời chín ngày sau, Winer cho ra phiên bản RSS 0.92, và một vài chỉnh sửa có tính tƣơng thích với các thay đổi của RSS 0.91 dựa trên cùng bản góp ý. Tháng 4 năm 2001, ông đƣa ra bản phác thảo của RSS 0.93 mà hầu hết là giống với bản 0. Bản thảo RSS 0.94 ra đời vào tháng 8, phục hồi lại những thay đổi trong bản 0.93, và thêm vào thuộc tính (attribute) type cho thành phần (element) description.
Tháng 9 năm 2002, Winer cho ra bản cuối cùng của RSS 0.92, bây giờ gọi là RSS 2.0 và nhấn mạnh "Really Simple Syndication" là nghĩa của ba kí tự viết tắt RSS. Đặc tả kĩ thuật của RSS 2.0 loại bỏ thuộc tính type từng đƣợc thêm vào trong RSS 0.94 và cho phép ngƣời dùng có thể thêm thành phần mở rộng nhờ dùng XML namespaces. Nhiều phiên bản của RSS 2.0 đã đƣợc ra đời, nhƣng chỉ số của phiên bản thì vẫn không thay đổi. Quy định của RSS RSS đƣợc viết trong XML.
Vì RSS là một định dạng tập tin dựa trên chuẩn XML nên nó cũng tuân theo những qui định của XML: Tất cả các phần tử phải có thẻ đóng. RSS phân biệt chữ hoa, chữ thƣờng. Các phần tử phải đƣợc lồng đúng cách. Các thuộc tính phải thƣờng đƣợc đặt trong dấu “”.
Chú thích trong RSS:. Tìm hiểu bài toán khai phá dữ liệu văn bản <!-- This is an RSS comment --> 2. Cú pháp của RSS Cấu trúc cú pháp của RSS rất đơn giản. Hãy xem ví dụ dƣới đây: <?xml version="1.0" encoding="ISO-8859-1" ?> <rss version="2.